Dân Mạnh là mạnh quyền lực , là mạnh về trí tuệ và mạnh khả năng đóng góp tài năng cho sự thịnh vượng chung cho đất nước . Có như thế nước mới giàu thực sự . Có như thế dân mới thể hiện quyền làm chủ trong mọi hoàn cảnh .Khi Quyền Lực thuộc về toàn dân, và người dân cùng nối kết mọi lực lượng tổ chức đấu tranh từ trong ra ngoài nước quyết chống chủ thuyết giáo điều độc tài , khủng bố áp bức người dân thô bạo , và tước đoạt quyền tự do ngôn luận của người dân, thì chỉ có lúc đó LUẬT PHÁP, NHIÊM VỤ , VÀ CÁC CHỨC NĂNG nhà nước mới làm tốt vai trò của mình ,khi đó mới có sự CÔNG BẰNG và dân không còn BỊ QUẤY RỐI , THAM NHŨNG VÀ LẠM QUYỀN
Showing posts with label Quốc Tế. Show all posts
Showing posts with label Quốc Tế. Show all posts

Friday, November 27, 2015

Cách tiêu diệt Nhà nước Hồi giáo

1844
Nguồn: Richard N. Haass, “After Paris,” Project Syndicate, 16/11/2015.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Các cuộc tấn công ở Paris của những cá nhân có liên quan đến Nhà nước Hồi giáo ngay sau các vụ đánh bom ở Beirut và tai nạn của một máy bay Nga trên bán đảo Sinai đã củng cố thực tế rằng mối đe dọa khủng bố đã bước vào một giai đoạn mới và thậm chí nguy hiểm hơn. Chỉ có thể phỏng đoán tại sao Nhà nước Hồi giáo quyết định dàn dựng những cuộc tấn công vào thời điểm này. Có thể là do nó đang mở rộng ra toàn cầu để bù đắp cho những mất mát lãnh thổ gần đây ở Iraq. Nhưng dù lý do là gì thì điều chắc chắn là cần phải có một phản ứng rõ ràng từ thế giới.
Trên thực tế, thách thức mà Nhà nước Hồi giáo đặt ra đòi hỏi phải có một số phản ứng khác nhau, do không có chính sách riêng lẻ nào hứa hẹn là đủ. Cần có nhiều nỗ lực trong nhiều lĩnh vực.
Thứ nhất là quân sự. Các cuộc không kích dữ dội hơn nhằm vào tài sản quân sự, các cơ sở dầu khí, và đầu não của Nhà nước Hồi giáo là rất quan trọng. Nhưng chỉ không kích thì bao nhiêu cũng không thể có hiệu quả. Một bộ phận bộ binh đáng kể là cần thiết nếu cần chiếm giữ các vùng lãnh thổ.
Thật không may, không đủ thời gian để xây dựng một lực lượng đối tác trên bộ từ đầu. Điều này đã được thử nghiệm và thất bại, và các nhà nước Ả Rập không thể hoặc không sẵn sàng thành lập một lực lượng như vậy. Quân đội Iraq cũng đã thất bại. Lực lượng dân quân do Iran hậu thuẫn chỉ làm cho vấn đề tồi tệ hơn.
Lựa chọn tốt nhất là phối hợp chặt chẽ hơn với quân đội người Kurd và một số bộ lạc người Sunni ở cả Iraq và Syria. Điều này đồng nghĩa với việc cung cấp thông tin tình báo, vũ khí, và sẵn sàng gửi thêm binh sĩ – hơn 3.500 lính Mỹ đã có mặt ở đây, và có thể lên đến khoảng 10.000 lính – để đào tạo, cố vấn, và giúp chỉ đạo một phản ứng quân sự.
Một nỗ lực như vậy phải được thực hiện tập thể. Nó có thể mang tính không chính thức – một “liên minh ý nguyện” (coalition of the willing) bao gồm Hoa Kỳ, Pháp, Anh, các nước Ả Rập, và thậm chí cả Nga trong trường hợp cần thiết – hoặc được thực hiện dưới sự bảo trợ của NATO hoặc Liên Hợp Quốc. Hình thức ít quan trọng bằng kết quả. Tuy nhiên, việc tuyên chiến một cách biểu tượng phải được cân nhắc cẩn thận, đề phòng trường hợp Nhà nước Hồi giáo sẽ có vẻ đang giành chiến thắng chừng nào nó chưa bị đánh bại.
Biện pháp ngoại giao cũng quan trọng không kém đối với bất cứ phản ứng nào. Tổng thống Syria Bashar al-Assad là một công cụ tuyển quân cho Nhà nước Hồi giáo và phải bị lật đổ. Nhưng bất kỳ chính phủ nào kế nhiệm cũng phải có khả năng duy trì trật tự và không cho phép Nhà nước Hồi giáo khai thác khoảng trống quyền lực, như nó đã làm ở Libya.
Hơn nữa, sự thay đổi chính trị một cách có trật tự chỉ xảy ra nếu có sự hỗ trợ của Nga và Iran. Một lựa chọn ngắn hạn đáng xem xét là chính phủ liên minh vẫn do một đại diện của nhóm thiểu số Alawite lãnh đạo, một sự nhượng bộ có thể là cái giá của việc hạ bệ Assad. Về nguyên tắc, và theo thời gian, một chính phủ quốc gia mang tính đại diện hơn có thể được thành lập, mặc dù việc tổ chức bầu cử trong vòng 18 tháng là ảo tưởng dưới mọi kịch bản.
Nhưng cũng có thể là sẽ không thể đạt được một thỏa hiệp như vậy. Đó là lý do tại sao nỗ lực quân sự gia tăng là cần thiết để giành lại những phần lãnh thổ lớn và an toàn hơn, qua đó có thể bảo vệ dân thường hiệu quả hơn và chiến đấu với Nhà nước Hồi giáo. Syria không phải là một quốc gia bình thường theo mọi ý nghĩa, và nó sẽ tiếp tục như vậy trong một thời gian dài, nếu không nói là mãi mãi. Một Syria bao gồm các vùng lãnh thổ cho các cộng đồng sắc tộc khác nhau là mô hình thực tế hơn trong tương lai gần.
Các yếu tố không thể thiếu khác của bất kỳ chiến lược hiệu quả nào bao gồm mở rộng trợ giúp hay gây áp lực buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải hành động nhiều hơn nữa để ngăn chặn dòng chảy của tân binh tới Nhà nước Hồi giáo. Và Thổ Nhĩ Kỳ, cùng với Jordan và Li-băng, cần được hỗ trợ tài chính nhiều hơn khi họ gánh vác phần lớn gánh nặng người tị nạn. Các nhà lãnh đạo Ả Rập và Hồi giáo có thể làm phần việc của mình bằng cách lên tiếng thách thức tầm nhìn của Nhà nước Hồi giáo và tước bỏ tính chính danh trong hành vi của nó.
Ngoài ra còn cần có các chính sách về mặt nội địa . An ninh quốc gia và thực thi pháp luật – như tăng cường bảo vệ ở cả biên giới và trong biên giới – sẽ phải được điều chỉnh theo mối đe doạ gia tăng. Khủng bố đơn lẻ – tức là việc các cá nhân hay các nhóm nhỏ thực hiện các cuộc tấn công vũ trang chống lại các mục tiêu mềm (không được bảo vệ) trong các xã hội mở – là hết sức khó đối phó. Mối đe dọa và các cuộc tấn công thực tế sẽ đòi hỏi sự vững chắc, bền bỉ hơn của toàn xã hội, và có thể cả một sự tái cân bằng giữa các quyền riêng tư của mỗi cá nhân và an ninh của tập thể.
Một quan điểm hiện thực cũng là điều cần thiết. Cuộc đấu tranh chống Nhà nước Hồi giáo không phải là một cuộc chiến tranh quy ước. Chúng ta sẽ không thể xóa bỏ hoặc phá hủy nó trong một sớm một chiều, do nó vừa là một mạng lưới và ý tưởng, vừa là một tổ chức và một nhà nước trên thực tế có kiểm soát các vùng lãnh thổ và tài nguyên.
Quả thật, chủ nghĩa khủng bố đang và sẽ tiếp tục là một trong những tai ương của thời đại này. Tuy nhiên, tin tốt là mối đe dọa của Nhà nước Hồi giáo ở Trung Đông và ở phần còn lại của thế giới có thể bị trấn áp đáng kể thông qua các hành động có phối hợp và bền bỉ. Bài học chính của các cuộc tấn công ở Paris là chúng ta phải chuẩn bị để hành động theo thời gian và ở mọi địa điểm.
Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), nguyên là Giám đốc Hoạch định Chính sách của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2001-2003), đặc phái viên của Tổng thống George W. Bush ở Bắc Ireland, và Điều phối viên của chương trình Tương lai của Afghanistan. Cuốn sách mới nhất của ông có nhan đề Foreign Policy Begins at Home: The Case for Putting America’s House in Order.
Copyright: Project Syndicate 2015 – After Paris

Thursday, November 26, 2015

Lợi ích quốc gia Hoa Kỳ và thế giới nằm ở đâu thưa ngài Obama?

“…TPP vẫn đang còn là một dấu chấm hỏi lớn về tính hiệu quả cũng như "lợi ích" để kiềm kẹp Trung Quốc. Thỏa thuận chia sẻ lợi ích với một quốc gia Cộng Sản chắc chắn là một hiểm họa trong tương lai đối với người Mỹ nói riêng và thế giới nói chung…”



hoaky_tpp
Trong hai năm gần đây, tổng thống Putin được tạp chí Forbes (Mỹ) vinh danh là “người quyền lực nhất thế giới”. Quyền lực của ông được khẳng định nhờ tiếng nói đanh thép và hành động cụ thể trong chiến lược bảo vệ chế độ độc tài Al-Assad thoát khỏi một cuộc tấn công của người Mỹ (2013). Chắc chắn tổng thống Putin sẽ được làm người quyền lực nhất thế giới trong năm tiếp theo khi tung ra những cú đấm quân sự cũng như các đường lối chính trị rất hợp lý để tạo vị thế chính trị cho một nước Nga đã bị lãng quên.

Phải làm rõ một điều tại sao người Mỹ, tổng thống Obama đã trao quyền lực cho tổng thống Putin từ khi nào? Vào mốc thời gian năm 2013 khi không thực hiện được chiến dịch tấn công Syria hay một sai lầm chính trị ngay từ khi ông mới nhậm chức?

Để được sự ủng hộ của nhân dân Mỹ, ông Obama đã cam kết sẽ rút hết quân lực ở Iraq về nước. Lời hứa đó đã được ông thực hiện vào cuối năm 2013. Khoảng trống quân sự ở Iraq đã được nhà nước Hồi Giáo IS và các quốc gia hậu thuẫn khủng bố tận dụng một cách triệt để. Trong vòng hai năm qua, lực lượng IS phát triển nhanh chóng về kinh phí cũng như nhân sự. IS đã thiết lập mạng lưới khủng bố toàn cầu cũng như đường lối hoạt động khủng bố có tổ chức rất rõ ràng và manh động công khai.

Trong suốt thời gian nhiệm kỳ 2008-2015, tất cả các chính sách của chính quyền Mỹ ở Trung Đông rất mờ nhạt thậm chí là không quan tâm. Một điều giản dị là tổng thống Obama đã "bỏ xó" các vấn đề Trung Đông ngay từ khi mới nhậm chức. Chính quyền Obama đã khá mờ nhạt và bỏ ngõ các vấn đề về thay đổi chính quyền Al-Assad, chống khủng bố IS, hòa giải tình đồng minh giữa Israel-Hoa Kỳ, thậm chí là mối nguy hại trong tương lai khi Iran quyết tâm đeo đuổi chính sách hạt nhân hóa. Lợi ích quốc gia của người Mỹ đã bị Obama "bỏ xó" một cách rất lộ liễu và rất sớm.

Nga từ một nước mờ nhạt về kinh tế-chính trị, mờ nhạt về độ tin tưởng thực lực quân sự. Tổng thống Putin đã thấy được sự yếu kém của tổng thống Obama và nhanh chân nhảy vào tận dụng. Ông Putin đã cho thế giới thấy rằng làm "lép vế" một vị tổng thống Hoa Kỳ đơn giản đến mức chỉ điều động vài chiến hạm tới Địa Trung Hải là có thể làm chủ được quyền lực. Bảo vệ chế độ Al-Assad là một quyết định đúng đắn cho chiến lược "giấu kín" của tổng thống Putin và cho tới ngày nay nó đang lộ rõ mục đích qua các đường lối chính trị tại khu vực-thế giới.

Chính quyền Putin đã tận dụng chiến trường Syria để chứng tỏ thực lực quân sự, cũng như bàn đạp giúp ích cho chính quyền trên bàn đàm phán. Hải quân Nga đã phóng 26 quả tên lửa hành trình đối đất Klub (3M-14) từ biển Caspian vào mục tiêu IS. Một sự kiện đáng quan tâm là bộ tham mưu Nga đã tung ra thêm một cú đấm thép quân sự sau khi thực hiện một chiến dịch tấn công vào các căn cứ thiết yếu của IS. Một chiến dịch phức tạp và mới nhất hiện nay khi khai hỏa hàng loạt tên lửa phóng đi từ các oanh tạc cơ chiến lược của nước này như Tupolev Tu-22M3 Backfire, Tu-95MS Bear và Tu-160 Blackjack. Bên cạnh đó 25 oanh tạc cơ Moscow còn được hộ tống bởi 8 tiêm kích Su-34 Fullback cùng 4 chiến đấu cơ đa nhiệm Su-30SM.

Sau hai sự kiện "thử lửa" đã chứng minh được thực lực quân sự cũng như chiến lược tác chiến của người Nga là khá công phu và mạnh mẽ. Mục đích chính trong hai sự kiện đó chỉ có thể là răn đe Châu Âu, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ. Bên cạnh đó cũng lấy được cảm tình của các quốc gia Châu Âu và tạm gọi là dẫn cuộc chiến chống khủng bố IS khi có những hành động tấn công mạnh mẽ.

Mới đây, một chiếc máy bay chiến đấu Su-24 bị rơi ở Syria. Phía Thổ Nhĩ Kỳ khẳng định rằng chiếc máy bay quân sự đã vi phạm không phận của nước này và bị bắn rơi, trong khi bộ quốc phòng Nga tuyên bố chiếc Su-24 chỉ bay trong không phận của Syria, Một dấu hiệu xấu báo động cho một cuộc chiến thế giới thứ 3 khiến NATO triệu tập cuộc họp bất thường của Hội đồng Bắc Đại Tây Dương (là cơ quan chính trị tối cao của Liên minh). Nhưng đó là một sự kiện tốt cho Nga tung ra những chiến lược quân sự cũng như áp đảo trên bàn đàm phán để thực hiện chính sách "giấu kín" là lôi kéo và gần gũi với phương Tây.

Nếu có một rủi ro châm ngòi cho thế chiến thứ 3 thì người lãnh trách nhiệm không ai khác ngoài tổng thống Obama. Mỹ đã hoàn toàn mất vai trò của một cường quốc trong các vấn đề ở Trung Đông, một bài toán mà chính quyền Obama đã không muốn giải từ khi mới nhậm chức. Chỉ có đưa bộ binh vào chiến trường Syria ngay trong lúc này mới có thể cứu vãn được tình thế.

Đảng Cộng Hòa đã nhiều lần nêu lên ý kiến đưa bộ binh vào chiến trường Syria tiêu diệt IS, một sự chọn lựa cũng như phương án duy nhất và hiệu quả nhất. Chính quyền Obama đã nhất thiết từ chối khi chưa thực hiện các giải pháp đối thoại ngoại giao với Đồng Minh-Ả Rập mà chính ông gây ra. Đồng minh Pháp đang thúc đẩy Obama cũng như trông chờ một siêu cường đưa ra những giải pháp hiệu quả (đưa bộ binh tham chiến) chống lực lượng IS, nhưng có vẻ ông đang mong thời gian trôi qua mau để được trở thành thường dân.

Lợi ích của người Mỹ ở Trung Đông đã bị đánh mất trước mắt cũng như trong tương lai, mọi sự rắc rối và mâu thuẫn chính trị sẽ gia tăng nếu như Mỹ vẫn muốn là một siêu cường và có sức ảnh hưởng trong khu vực Tây Á-Châu Âu. Việc chính sách xoay trục Châu Á-Thái Bình Dương còn quá nhiều rủi ro, thậm chí là một thế chiến thứ 3 cũng có thể xảy ra khi Trung Quốc rơi vào bước đường cùng. Nhưng trước mắt người Mỹ đang chao đảo khi Trung Quốc tung ra những cú đấm "mòm" trong khu vực và các hành động quân sự hóa ở hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) rất hiệu quả.
Một chiến lược xoay trục vì lợi ích ở Châu Á đã không có những sự chuẩn bị trước từ tác chiến quân sự cho đến các đường lối đối thoại ngoại giao. TPP vẫn đang còn là một dấu chấm hỏi lớn về tính hiệu quả cũng như "lợi ích" để kiềm kẹp Trung Quốc. Thỏa thuận chia sẻ lợi ích với một quốc gia Cộng Sản chắc chắn là một hiểm họa trong tương lai đối với người Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Các chế độ độc tài vẫn đàn áp nhân quyền và đối lập, tình trạng bất ổn chính trị-bạo loạn sẽ gia tăng làm ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế toàn cầu, khi Việt Nam gia nhập TPP.

Ai sẽ chịu trách nhiệm khi tổng thống Obama hết nhiệm kỳ? Người Mỹ đã sai lầm khi chọn lựa một con người "quá thực dụng, quá yếu kém" lên lãnh đạo đất nước. Nếu lịch sử nước Mỹ lập lại thêm một lần nữa, một vị tổng thống như Obama thì có lẽ mô hình "tổng thống chế" của nước Mỹ cũng không còn, thay vào đó là một thể chế dân chủ Đại Nghị phù hợp hơn.

Hy vọng người Mỹ sẽ sáng suốt hơn trong việc chọn lựa vị tổng thống tiếp theo để bảo vệ nước Mỹ trước các hiểm họa trước mắt và trong tương lai, cũng như một siêu cường có những chính sách độc lập về các giá trị tự do-dân chủ-nhân quyền.

Một nhận định thêm về đối lập Việt Nam, chúng ta không thể trông chờ vào người Mỹ. Hai nhiệm kỳ của Obama đã cho chúng ta nhiều bài học, chúng ta phải tự lực tự cường phải nhanh chân tham gia các tổ chức chính trị đứng đắn đã có sẵn, đã có một bề dầy kinh nghiệm đấu tranh. Dân tộc Myanmar đã đi trước, họ đang phát triển kinh tế và chú trọng phát triển nông nghiệp. Tương lai của một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên lại có thêm một người bạn để cạnh tranh gay gắt trong vấn đề phát triển kinh tế, đặc biệt là cạnh tranh nông nghiệp.
Nguyễn Hòa Bình

Một bài học cho ông Putin

“…Cuộc phiêu lưu của ông Putin ở Syria sẽ đưa tới một hậu quả là nước Nga sẽ bị dân Hồi Giáo Sun Ni coi là kẻ thù truyền kiếp. Họ sẽ hỗ trợ dân Hồi Giáo trong Liên Bang Nga chống chính quyền Nga…”
 
 
Russian-Su-shot-down-by-Tur
Phi cơ Su-24 của bị bắn hạ
 
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ mới cho ông tổng thống Nga một bài học. Hai máy bay F-16 do Mỹ chế tạo đã bắn hạ một chiếc Sukhoi Su-24 của Nga xâm phạm không phận Thổ trong khi oanh kích các lực lượng chống chính quyền Assad ở Syria. Máy bay Thổ đã cảnh cáo máy bay Nga 10 lần trong vòng năm phút trước khi bắn; một máy bay Nga khác đã trở về căn cứ ở Syria.
Ông Vladimir Putin nổi giận, tố cáo Thổ “đâm sau lưng” Nga trong khi cả hai nước cùng đánh địch thủ chung là lực lượng IS, “Quốc Gia Hồi Giáo” tại Syria. Ông Putin lại phân trần rằng phi cơ Nga chưa vào nước Thổ, còn bay cách xa biên giới một cây số (1 km). Oanh tạc cơ Su-24 có thể đạt tốc độ 2,320 km một giờ, nếu bay chậm cũng nháy mắt là có thể bay chệch một, hai cây số như không. Theo đài CNN, một quân nhân Mỹ phân tích rằng máy bay Nga chỉ lọt vào không phận Thổ Nhĩ Kỳ trong vòng 30 giây.
Ðiều đáng chú ý là địa điểm của cuộc chạm súng trên không này. Ðó là vùng núi non nằm giữa hai nước Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, thường gọi là “Núi Người Thổ,” (Turkmen Mountain) vì dân cư đều là người gốc Thổ (Turk), sắc dân chính ở quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Trong cuộc nội chiến “năm phe bẩy phái” ở Syria, Thổ Nhĩ Kỳ cùng với Á Rập Saudi, Qatar, Mỹ ủng hộ nhiều đoàn quân nổi dậy chống chính quyền Assad. Họ cũng chống cả lực lượng IS cùng các nhóm hậu thân của phong trào al-Qaeda, cả hai đều đang chống Assad và cũng đánh lẫn nhau.
Lực lượng nổi dậy chống Assad trong vùng núi này là những người Syria gốc Thổ, mang danh nghĩa “Binh Ðoàn Số 10” trong tập hợp “Quân Ðội Syria Tự Do.” Trước khi xẩy ra vụ máy bay Nga bị hạ, quân chính phủ Assad và không lực Nga đã tấn công các đám quân nổi dậy trong vùng mặc dù không hề có quân IS hoạt động tại đó. Ðã có 1,700 thường dân chạy tị nạn khỏi vùng núi non này trong ba ngày giao tranh. Họ đều là người gốc Thổ. Tuần trước, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã gọi đại sứ Nga ở Ankara tới để phản đối máy bay Nga bỏ bom các làng người gốc Thổ, đồng thời yêu cầu Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc can thiệp. Ông Putin chắc chắn sẽ dùng quyền phủ quyết không cho Liên Hiệp Quốc dính vào, để máy bay Nga tiếp tục giết các thường dân vô tội không chịu thần phục Assad. Một tổ chức trung lập sưu tập tài liệu (VDC) ở Syria cho biết trong 45 ngày đầu tiên có mặt ở Syria, máy bay Nga đã giết 526 thường dân, trong đó có 137 trẻ em và 71 phụ nữ.
Kể từ khi ông Putin cho quân sang Syria để bảo vệ chính quyền Assad, máy bay Nga đã nhân cơ hội đi bỏ bom các đám quân nổi dậy khác do Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Qatar và Á Rập Saudi hỗ trợ. Putin nghĩ rằng như vậy là khôn: Mượn cớ đánh IS để tiêu diệt bớt các lực lượng nổi dậy khác, giúp cho Assad có thế lực mạnh hơn khi ngồi vào bàn thảo luận lập một chính phủ liên hiệp để cùng đánh IS. Các nước Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ đã lên tiếng tố cáo rằng máy bay Nga không đánh quân IS nhiều bằng đánh các nhóm quân chống Assad khác. Ông Putin bỏ qua những lời chỉ trích đó, không trả lời; ông gọi chung tất cả các lực lượng chống Assad là “quân khủng bố,” giống như quân IS. Nhưng Thổ Nhĩ Kỳ đã “lật tẩy” Putin bằng hành động. Khi máy bay Nga bị bắn hạ tại vùng “Núi Người Thổ” thì ông Putin không thể làm ngơ được nữa. Ông đã nhận được một bài học: Không thể giết người rồi cãi “bài bây” mãi được.
Một điều đáng chú ý khác là các đài truyền hình Thổ Nhĩ Kỳ đã chiếu hình ảnh chiếc máy bay Nga bốc cháy và cảnh hai phi công Nga nhảy dù bị bắn trong khi còn trên không. Ai đã sẵn sàng tại chỗ để quay phim các cảnh tượng đó? Chính “Binh Ðoàn Số 10” đã cung cấp video cho hãng thông tấn Reuters và các đài ti vi. Trong đoạn phim có người nói “đừng bắn, bắt sống lấy hắn” bằng tiếng Thổ. Binh Ðoàn Số 10 đang đề nghị đổi xác phi công Nga thiệt mạng lấy các binh sĩ của họ đang bị chính quyền Assad bắt giữ.
Ngay sau khi bắn hạ máy bay Nga, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã yêu cầu khối NATO họp khẩn cấp để họ trình bày vụ đụng độ. Thổ Nhĩ Kỳ là một thành viên khối NATO, Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, được lập ra từ thời Chiến Tranh Lạnh. Vào đầu Tháng Mười, Thổ Nhĩ Kỳ đã yêu cầu khối NATO họp khẩn cấp sau khi máy bay Nga nhiều lần xâm phạm không phận; sau đó khối NATO đã lên tiếng lên án và cảnh cáo Nga. Lần này, Thổ Nhĩ Kỳ đã hành động trước khi báo tin cho các đồng minh. Theo Ðiều Số Năm trong minh ước, nếu một trong 28 nước thành viên bị tấn công thì các nước kia cũng coi như mình bị tấn công. Kể từ khi thành lập, chỉ có một lần duy nhất Ðiều Số Năm được viện dẫn là sau khi quân khủng bố tấn công hai tòa nhà ở New York, ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Trong lời phản đối chính phủ Thổ, ông Vladimir Putin đã trách rằng họ nói chuyện với khối NATO trước, thay vì đem chuyện đụng độ này bàn ngay với chính phủ Nga! Ðây là lần đầu tiên kể từ thập niên 1950 máy bay của một nước trong khối NATO bắn hạ một máy bay của Liên Xô hay của Nga. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, Thổ Nhĩ Kỳ là một tiền đồn của thế giới tự do đương đầu với khối Liên Xô, đã cho Mỹ đặt căn cứ hỏa tiễn. Nhưng trong các thế kỷ trước, đế quốc của các Nga Hoàng đã nhiều lần tranh chấp với đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ trên nhiều mặt trận, từ Châu Âu qua Châu Á, vì Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát con đường thủy nối Hắc Hải với Ðịa Trung Hải, coi như chặn giữa yết hầu của đế quốc Nga.
Mặc những lời phản đối của Putin, Tổng Thống Tayyip Erdogan nói giản dị rằng máy bay Thổ phải bắn vì máy bay kia nghe cảnh cáo mà không trả lời. Ông giải thích: “Ở chỗ đó không có quân IS mà chỉ có người Thổ!” Chúng ta biết rằng dân chúng và chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ luôn luôn bênh vực những sắc dân cùng chủng tộc, từ các nước ở miền Trung Á cho tới ở Trung Quốc. Dân chúng Istanbul đã từng tấn công các du khách Trung Hoa khi chính quyền Trung Cộng đàn áp dân Uyghur ở Tân Cương.
Thủ Tướng Ahmet Davutoglu tuyên bố rằng Thổ Nhĩ Kỳ không ngần ngại làm bất cứ biện pháp nào để bảo vệ lãnh thổ, ông gọi đó là một “bổn phận quốc gia”. Ðại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Washington nói rõ hơn, “Hãy hiểu như thế này: Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia mà mọi người phải lắng nghe những lời cảnh cáo của quốc gia đó một cách nghiêm chỉnh! Ðừng ai tính thử thách đức kiên nhẫn của Thổ Nhĩ Kỳ!” Người Việt Nam nghe những lời lẽ này chắc cũng ước mong chính quyền Cộng Sản nước ta dám nói được những lời đanh thép như thế!
Mặc dù la lối ồn ào, ông Putin chắc sẽ đấu dịu. Các cơ quan truyền thông ở Nga không nhắc gì tới Thổ Nhĩ Kỳ mà khi tường thuật vụ máy bay rớt chỉ quy tội cho các quân nổi dậy ở Syria. Ông Putin không muốn dân Nga biết cuộc phiêu lưu của ông ở Syria gây ra những hậu quả tai hại như thế nào. Viên phi công Nga và một thủy quân lục chiến đi giải cứu bị chết là hai quân nhân Nga đầu tiên được công nhận thiệt mạng ở Syria. Sau vụ chiếc máy bay dân sự Nga rớt ở Sinai chính phủ Nga khăng khăng nói đó chỉ là tai nạn, không muốn dân Nga nhìn thấy hậu quả của hành động của ông Putin ở Syra. Họ chỉ công nhận máy bay bị đặt bom sau vụ khủng bố tàn khốc ở Paris.
Tổng Thống Pháp Francois Hollande đã tới Tòa Bạch Ốc để thúc giục chính phủ Mỹ tích cực hơn trong việc đánh quân IS. Ông Hollande đang dẫn đầu trong chủ trương đánh mạnh hơn, nhưng Tổng Thống Mỹ Obama nói rằng Mỹ đã đóng góp vừa đủ phần mình vào chiến dịch này, và kêu gọi phải tìm một giải pháp chính trị. Pháp, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ đều đòi phải loại bỏ ông Assad trong khi Nga muốn giữ quân cờ này trong một chính phủ liên hiệp với thời hạn hai năm.
Cuộc chiến ở Syria kéo dài thì chỉ bất lợi cho ông Putin; trong khi Mỹ chỉ cần tiếp tục oanh tạc quân IS và ngồi chờ một cuộc đàm phán để thành lập một chính quyền lâm thời. Ðiều bất lợi nhất cho nước Nga là cuộc chiến càng kéo dài thì dân các nước Hồi Giáo theo phái Sun Ni càng nhìn Nga như một nước thù địch. Nga liên kết với Iran, một quốc gia đa số theo phái Shi A, đối nghịch với Sun Ni. Không lực Nga tấn công quân IS nhưng cũng chủ tâm giết hại các dân quân nổi lên chống chính quyền Assad, một người thuộc phái Shi A; và máy bay Nga giết rất nhiều thường dân Syria theo phái Sun Ni, kể cả những người thiểu số gốc Thổ. Lâu nay chính phủ Nga vẫn phải đối phó với các tín đồ Sun Ni trong các nước thuộc Liên Bang Nga. Trong số các người ngoại quốc sang Syria tòng quân cho IS, đông đảo nhất đến từ hai nước Pháp và Nga. Cuộc chiến kéo dài thì dân theo phái Sun Ni càng căm thù nước Nga.
Trong bản thông cáo của cánh quân IS ở Sinai về vụ đặt bom chiếc máy bay Nga, họ tự nhận đã “giết 240 tên quân thập tự;” nhắc lại hình ảnh các đoàn thập tự quân từ Châu Âu qua đánh quân Hồi Giáo vào thế kỷ 11 đến 13. Quân IS đã cố ý gán ghép nhầm, vì dân Nga theo Chính Thống Giáo, không hề có mặt trong các đoàn thập tự chinh xưa kia. Nhưng chủ ý của họ là kêu gọi các đồng đạo Sun Ni chống Nga, trong đó có dân các nước Hồi Giáo trong Liên Bang Nga. Trong cuốn video quay cảnh máy bay Nga bị hạ vừa qua, có tiếng người nói: “Binh Ðoàn Số 10 đã bắt được một phi công Nga!” Kèm theo, họ còn hô một khẩu hiệu quen thuộc của người Hồi Giáo: “Thượng Ðế Vĩ Ðại!” Cuộc phiêu lưu của ông Putin ở Syria sẽ đưa tới một hậu quả là nước Nga sẽ bị dân Hồi Giáo Sun Ni coi là kẻ thù truyền kiếp. Họ sẽ hỗ trợ dân Hồi Giáo trong Liên Bang Nga chống chính quyền Nga.
Trong khi chờ đợi chắc ông Putin không dám làm to chuyện vụ máy bay F-16 của Thổ Nhĩ Kỳ bắn rớt chiếc Sukhoi Su-24. Trước khi xảy ra vụ này, Ngoại Trưởng Nga Sergei Lavrov đã có kế hoạch qua thăm Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày hôm nay Thứ Tư, 25 tháng 11. Tổng Thống Thổ Erdogan cũng dự tính sẽ qua Nga gặp Putin trong tháng 12. Trong tuần này, Tổng Thống Pháp Hollande cũng qua Nga gặp ông Putin. Erdogan và Hollande sẽ bàn với Putin chuyện đánh quân IS, và họ sẽ yêu cầu Nga đánh quân IS thật chứ không nên đi giết các lực lượng khác chống chính quyền Assad nữa. Ông Putin đã nhận được một bài học thấm thía.
Ngô Nhân Dụng
Nguồn: nguoi-viet.com

Vì sao nhà nước Somaliland chưa được công nhận?

20151031_BLP515
Nguồn: “Why Somaliland is not a recognised state”, The Economist, 01/11/2015.
Biên dịch: Vũ Hồng Trang – Nguyễn Thùy Dương | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Somaliland, một dải đất hẹp có người Somali sinh sống nằm ở bờ nam của vịnh Aden, sở hữu gần như đầy đủ mọi yếu tố để trở thành một quốc gia. Somaliland dùng đồng tiền riêng, có bộ máy hành chính tương đối hiệu quả và một lực lượng quân đội và cảnh sát được đào tạo bài bản. Chính phủ Somaliland đặt tại thủ đô Hargeisa, duy trì một mức độ kiểm soát đáng kể trên lãnh thổ của mình. Nhìn chung, đây là đất nước hòa bình, trái ngược hoàn toàn với Somali ở phía nam – nơi mà các cuộc đánh bom và một vụ bạo loạn cuối tuần qua tại một khách sạn nổi tiếng ở thủ đô nước này đã cướp đi sinh mạng ít nhất 14 người.
Somaliland tham gia các thỏa thuận pháp lý (ví dụ như ký các giấy phép thăm dò dầu khí với các tập đoàn nước ngoài) và tham gia vào các hoạt động ngoại giao với Liên Hợp Quốc, Liên đoàn Ả Rập, Liên minh châu Âu và các quốc gia như Anh, Mỹ và Đan Mạch. Nhưng kể từ khi tuyên bố độc lập năm 1991, đất nước này vẫn chưa nhận được sự công nhận chính thức từ bất cứ một chính phủ nước ngoài nào. Đối với thế giới bên ngoài, Somaliland vẫn chỉ là một vùng tự trị của Somali, chịu sự quản lý của chính phủ liên bang Somali ở thủ đô Mogadishu. Tại sao Somaliland vẫn chưa phải là một nhà nước?
Trong suốt kỷ nguyên sau độc lập, tình hình địa chính trị ở châu Phi có khuynh hướng tôn trọng các “đường biên giới thuộc địa”, tức là những đường biên giới mà thực dân châu Âu đã đặt ra vào thế kỷ 19. Trên khắp lục địa này, mới chỉ có hai sự thay đổi đáng kể trên bản đồ thuộc địa kể từ thập niên 1960: Eritrea tách khỏi Ethiopia năm 1993; và Nam Sudan ly khai khỏi Sudan năm 2011.
Vị trí địa lý của Somaliland. Nguồn: The Economist.
Vị trí địa lý của Somaliland. Nguồn: The Economist.
Về vấn đề Somaliland, Liên minh châu Phi, tổ chức mà cộng đồng quốc tế thường nhờ tới khi xem xét các vấn đề biên giới, hoàn toàn giữ vững quan điểm từ trước đến nay: nếu công nhận nhà nước Somaliland sẽ chẳng khác gì mở đường cho hàng loạt các tuyên bố ly khai trong khu vực. Liên minh châu Phi cho rằng chỉ khi Somali chấp thuận thì Somaliland mới được công nhận nền độc lập.
Tuy nhiên, người dân Somaliland chỉ ra rằng điều đó không nhất quán bởi lẽ khác với Somali, Somaliland vẫn tuân theo biên giới thuộc địa cũ. Thậm chí trước đó Somaliland đã từng là một nhà nước (trước khi giành độc lập, phần lãnh thổ này được cai trị như một thuộc địa riêng biệt của Anh và thậm chí còn được hưởng 5 ngày ngắn ngủi với tư cách là một nhà nước có chủ quyền). Nền độc lập của Somaliland chỉ là nhu cầu tách ra khỏi Somali, chứ không phải tái thiết một nhà nước mới.
Mặc dù chính Liên minh châu Phi từng công nhận điều này vào năm 2005, thế nhưng lời tuyên bố của Somaliland vẫn tiếp tục trong tình trạng vô định.
Nguyên nhân nằm ở chính tại và xoay quanh chính quyền Mogadishu. Cuộc nội chiến Somalia diễn ra ác liệt trong vòng hai thập niên rưỡi, và cho dù một hiến pháp mới được ra đời năm 2012, thẩm quyền quản lý lãnh thổ của chính phủ liên bang Somali vẫn chưa vững chắc. Nhiều người lo sợ rằng việc tạo ra một nhà nước mới trong khu vực, mà sự tồn tại của nó gần như chắc chắn sẽ kích động các tỉnh có chủ trương ly khai khác của Somali (như Puntland, Jubbaland và Hiranland), sẽ dẫn tới việc chia cắt Somali theo các dòng tộc, đồng thời châm ngòi cho các căng thẳng vốn đã nảy sinh từ lâu trong khu vực (ví dụ như giữa người Somali và người Ethiopia).
Hơn nữa, bằng cách xé vụn quyền lực của chính phủ liên bang ở Mogadishu, vốn chỉ chấp nhận một nhà nước Somali thống nhất, điều này có thể dẫn tới việc làm dấy lên những mối hiềm khích giữa miền bắc và miền nam, khiến các cuộc đàm phán hòa bình diễn ra trong nhiều năm gần như không thể đạt được. Điều này là thảm cảnh đối với các nước láng giềng của Somali cũng như với cộng đồng quốc tế. Nhiều ý kiến cho rằng điều tương tự dường như đang xảy ra ở Nam Sudan ngày nay.
So với nhóm vận động hành lang cho một nhà nước Nam Sudan độc lập, vốn có tiếng nói ở Quốc hội Mỹ và những nơi khác, những người cổ vũ cho nền độc lập của Somaliland còn ít được biết đến. Đương nhiên, một nhóm như vậy có tồn tại, thậm chí rất nhiều các hội đồng thành phố tại Anh, như ở Cardiff, đã tự công nhận nhà nước Somaliland. Thế nhưng ít nhất là trong thời điểm hiện tại, việc các quốc gia khác chính thức công nhận nhà nước Somaliland vẫn chỉ là một giấc mơ viển vông. Và chừng nào nhà nước “mẹ” của Somaliland vẫn còn là mối lo ngại về an ninh hàng đầu ở khu vực Sừng châu Phi, thì việc trở thành nhà nước của Somaliland vẫn sẽ còn bị làm ngơ.

Ảo giác của Đông Nam Á về sức mạnh kinh tế Trung Quốc

Globe and China Flag for background
Nguồn: Malcolm Cook, “Southeast Asia’s China illusion”, Business World Online, 12/10/2015.
Biên dịch: Phạm Phan Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Quan niệm phổ biến thường không sáng suốt và mang tính ảo tưởng nhiều hơn thực tế. Ngày nay, ở khắp Đông Nam Á, việc Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế tối quan trọng trong khu vực và sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc sẽ chỉ tăng lên được coi là một thực tế đương nhiên không cần soát lại.
Quan niệm phổ biến này đang định hình cách các nhà lãnh đạo và phân tích chính trị trong khu vực nhìn nhận quan hệ của nước mình với Trung Quốc và các nước khác. Ứng cử viên tổng thống Philippines Jejomar C. Binay trong một cuộc phỏng vấn với truyền thông đầu năm nay đã sử dụng tầm quan trọng về mặt kinh tế của Trung Quốc đối với Philippines để biện minh cho việc ông ủng hộ thái độ nhẹ nhàng hơn trong tranh chấp lãnh thổ tại biển Tây Philippines (tức Biển Đông – NBT), tập trung vào cách tiếp cận ưa thích của Trung Quốc là hợp tác cùng phát triển.
Không có ý kiến tương tự nào về việc hợp tác chính trị và chiến lược với Hoa Kỳ và Nhật Bản nhằm duy trì quan hệ kinh tế với những nguồn cơ hội kinh tế cho Đông Nam Á có thể nói là còn quan trọng hơn này. Thay vào đó, nhiều nước Đông Nam Á được cảnh báo nên cẩn trọng trong việc thúc đẩy quan hệ với hai cường quốc thân thiện nhất trong khu vực do e ngại làm phật lòng Trung Quốc, cường quốc thiếu thân thiện nhất đối với nhiều nước Đông Nam Á.
Nếu tình trạng lệ thuộc kinh tế của Đông Nam Á và Philippines đối với Trung Quốc đã hoặc rất có khả năng trở nên sâu sắc trong tương lai gần, thì phương thức tiếp cận ưu ái với Trung Quốc có thể hiểu được, đặc biệt nếu xét đến mối lo ngại rộng khắp rằng Trung Quốc có thể sử dụng áp lực kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược. Những người ủng hộ quan niệm phổ biến này nhìn chung bỏ qua một nhóm các đặc điểm kinh tế và sử dụng những nhóm khác một cách hời hợt để chứng minh về mặt thực nghiệm một quan niệm phổ biến mà họ theo đuổi cũng như các kiến nghị chính sách dựa theo đó. Một sai lầm là về bỏ sót thực tế và một là về thiên kiến.
Không có gì ngạc nhiên khi các số liệu về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phần lớn đều bị tảng lờ trong các lập luận về sự áp đảo kinh tế của Trung Quốc đối với khu vực khi các số liệu trên mâu thuẫn với quan niệm đó xét trên bình diện toàn bộ khu vực cũng như Philippines nói riêng. Sử dụng các số liệu sẵn có gần đây nhất của Liên Hợp Quốc, tới thời điểm cuối năm 2012, Trung Quốc mới chỉ là nguồn vốn FDI lớn thứ bảy trong khu vực Đông Nam Á cả về tổng số vốn đăng ký lũy kế cũng như các dòng vốn mới. Khối lượng FDI trong khu vực Đông Nam Á của Malaysia lớn gần gấp rưỡi so với của Trung Quốc. Số vốn của Nhật lớn hơn năm lần so với của Trung Quốc, trong khi số vốn của Trung Quốc cũng chỉ bằng 1/5 so với của Hoa Kỳ. Nhật đầu tư vào Thái Lan một lượng tiền lớn gấp đôi so với đầu tư của Trung Quốc vào tất cả 10 quốc gia trong khu vực. Vào cuối năm 2013, Hoa Kỳ chiếm 1/7 lượng tiền đầu tư trực tiếp vào Singapore, trong khi Trung Quốc chỉ chiếm dưới 1/50.
Câu chuyện của Philippines còn mâu thuẫn với quan niệm phổ biến nhấn mạnh vai trò Trung Quốc hơn cả câu chuyện của khu vực. Vào cuối năm 2012, Trung Quốc chỉ chiếm 1,2% tổng số vốn FDI vào Philippines. Vốn đầu tư của Nhật Bản lớn gấp 20 lần và Hoa Kỳ lớn hơn tròn 25 lần con số đó.
Năm 2012, doanh nghiệp Philippines có lượng tiền đầu tư vào Trung Quốc lớn gấp đôi lượng tiền doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Philippines. Các số liệu gần đây cho thấy tình trạng tương tự. Năm 2014, Trung Quốc chỉ là nguồn vốn FDI lớn thứ sáu, chiếm 6,1% tổng số vốn được phê duyệt. Nhật Bản là nguồn lớn nhất chiếm 19,1%, theo sau là Hà Lan với 17,5%. Dù các hoạt động đầu tư FDI ra nước ngoài của Trung Quốc đang phát triển nhanh, phần lớn đều đang né tránh khu vực Đông Nam Á. Từ 2009 tới 2012, Đông Nam Á nhận được chưa tới 1/16 vốn đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc. Trong cùng giai đoạn, khu vực này thu hút được quá nửa dòng vốn FDI ra nước ngoài của Đài Loan và hơn 1/7 số vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản.
Những người ủng hộ quan niệm phổ biến trên thích sử dụng các số liệu thương mại tổng hợp nhằm biện minh cho các tuyên bố về sự vượt trội về mặt kinh tế của Trung Quốc tại Đông Nam Á. Những số liệu đó chắc chắn đưa ra lý lẽ thuyết phục vì Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ nhất hoặc thứ nhì của tất cả các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á ngoại trừ Brunei. Tuy vậy, đối với các nền kinh tế ven biển thuộc Đông Nam Á, những số liệu thương mại tổng hợp với Trung Quốc thổi phồng ảnh hưởng tiềm năng của Trung Quốc.
Chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu trong thị trường điện tử và ô tô chiếm một phần lớn trong thương mại của các nước Đông Nam Á ven biển với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính các doanh nghiệp Nhật Bản, Hoa Kỳ, châu Âu, Hàn Quốc và Đài Loan, không phải doanh nghiệp Trung Quốc, mới kiểm soát phần lớn các chuỗi giá trị này cũng như nơi đặt các mắt xích của chúng. Vì vậy tương quan giữa dòng thương mại giữa các doanh nghiệp Đông Nam Á và Trung Quốc với sự áp đảo kinh tế tiềm năng của Trung Quốc chỉ hợp lý nếu Trung Quốc sở hữu các doanh nghiệp và các chuỗi giá trị này. Nhưng thực tế không phải vậy.
Mối lo ngại, và niềm hy vọng, về tầm quan trọng kinh tế hiện tại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Philippines mang tính ảo giác và rất có khả năng vẫn sẽ như vậy trong tương lai gần. Kinh tế ở Đông Nam Á càng giàu có và càng mở thì càng bớt lệ thuộc vào Trung Quốc, và trường hợp của Philippines cũng vậy. Các nhà phân tích và lãnh đạo Philippines và khu vực tốt hơn nên vứt bỏ quan niệm phổ biến mang tính ảo giác này, thay vì nhắc đi nhắc lại nó và đề ra các kiến nghị và thay đổi chính sách dựa vào đó. Đừng tạo ra một thế giới nơi bạn sợ phải sống ở đó.
Malcolm Cook là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore và là giáo sư thỉnh giảng tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Ateneo de Manila nơi ông dạy toàn thời gian từ năm 1997 tới 2000.

Liệu bà Suu Kyi có trở nên độc đoán?

0,,15852863_303,00
Nguồn: “Suu Kyi, long a symbol of dignified defiance, sounds a provocative note”, The New York Times, 17/11/2015.
Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Hai thập kỷ qua, bà Aung San Suu Kyi là một biểu tượng rạng rỡ của sự phản kháng bất bạo động một cách chân chính. Phần lớn khoảng thời gian đó bà bị quản thúc tại gia bởi các tướng lĩnh vốn đã cai trị Myammar trong nửa thế kỷ qua. Ngày nay, bà đang ở đỉnh cao của sự ngưỡng mộ và quyền lực tại quốc gia này vì đã lãnh đạo đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà đi tới thắng lợi lớn vào tháng này trong các cuộc bầu cử quốc hội làm đảo ngược cấu trúc quyền lực của Myanmar.
Bà đã đặt sự hòa giải với các tướng lĩnh ở một vị trí cao trong chương trình nghị sự, nhưng khi bà chuyển sang địa vị thống trị, ngôn từ của bà cũng đã trở nên khiêu khích.
Sự khiêu khích đầu tiên của bà đến ngay trước cuộc bầu cử ngày 8/11, khi bà gạt sang một bên quy định của Hiến pháp ngăn cản bà nắm quyền Tổng thống bởi vì bà là vợ của một người nước ngoài và mẹ của những đứa con sinh ra ở nước ngoài.
Bà tuyên bố một câu vốn đã bị phản ứng xung quanh đấu trường chính trị rằng: “Tôi sẽ ở trên Tổng thống. Tôi sẽ điều hành chính phủ và chúng tôi sẽ có một Tổng thống làm theo các chính sách của NLD”.
Bà nhắc lại một lần nữa: “Tôi sẽ ở trên Tổng thống. Tôi đã lên các kế hoạch”.
Việc lách Hiến pháp này phù hợp với sự khẳng định của bà rằng bà sẽ duy trì “những phần tốt” của Hiến pháp được các tướng lĩnh soạn thảo nhằm bảo vệ các lợi ích chính trị và kinh tế của họ.
Nhưng dù sao đó cũng là một khẳng định táo bạo của một người phụ nữ từng trải qua 15 năm làm tù nhân của các tướng lĩnh, và thái độ kiên quyết của bà đã làm kinh ngạc những người từng xem bà như một chú chim bị nhốt trong lồng, chấp nhận để số phận trong tay của những kẻ đã hành hạ bà. Hiện nay, khi 70 tuổi, bà chuẩn bị tiếp quản chính phủ mà bà đã đấu tranh để giành được lâu nay, điều mà một số người coi là phong cách độc đoán và hách dịch của bà đã làm dấy lên những câu hỏi về sự trung thành của bà đối với nền pháp quyền và về cách bà lên kế hoạch thực thi quyền lực.
Ông David Steinberg, một chuyên gia về Myanmar tại Đại học Georgetown cho biết: “Ở đây, bạn có một người về cơ bản đã nói ‘tôi sẽ giành quyền tiếp quản’. Tuy nhiên, bà ấy sẽ gặp một vấn đề khủng khiếp nếu bà ấy cố gắng áp đặt quyền lực của mình, và nếu người ta nghĩ bà đang xem thường quân đội và hướng tới một con đường mang tính đối đầu”.
Ông nói thêm: “Không có sự tin cậy vào lúc này, và sự tin cậy là yếu tố căn bản trong toàn bộ vấn đề”.
Phong cách lãnh đạo của bà Suu Kyi thể hiện rõ ràng trong những mệnh lệnh mà bà đưa ra cho các thành viên đảng mình trong và sau cuộc bầu cử. Bà kiểm soát chặt chẽ các ứng viên, khiến họ trở thành những tay chân được ủy nhiệm trực tiếp từ bà, giống như điều mà bà lên kế hoạch thực hiện với vị Tổng thống kế tiếp của Myanmar.
Ông Phyo Min Thein, một thành viên cấp cao thuộc đảng của bà nói: “Các ứng viên không được phép tự nói về chính họ. Chỉ được nói về đường lối của đảng. Và các cử tri được yêu cầu làm ngơ các ứng viên và chỉ bỏ phiếu cho đảng. Thậm chí một người đã chết cũng có thể được bầu”.
Những người ủng hộ bà Suu Kyi thừa nhận chắc chắn đó là một sự độc đoán, nhưng những người ủng hộ hăng hái nhất không nhìn nhận đó là một khuyết điểm của bà.
Ông Win Htein, thuộc nhóm thân tín của bà Suu Kyi, người tham gia một hội đồng 15 thành viên thường xuyên gặp gỡ bà, đặt câu hỏi: “Khiếm tốn ư? Tại sao bà ấy phải làm thế?”.
Ông nói: “Bà ấy đã chờ đợi kết quả này trong 20 hoặc 30 năm qua. Dĩ nhiên, bà ấy tự hào”.
Ông cũng gọi bà là một “quý bà số một” (prima donna), ngầm ý như một lời khen ngợi. Cử tri đã không trừng phạt bà vì thái độ đó. Vượt quá kỳ vọng của tất cả mọi người và có lẽ cả chính bản thân bà, đảng của bà đã giành được 387 trong tổng số 498 ghế tranh cử”.
Ngược lại, Đảng Đoàn kết và Phát triển Liên bang đương nhiệm được quân đội hậu thuẫn, đảng đã mở ra những cải cách dân chủ và kinh tế sâu rộng bốn năm trước, chỉ giành được 42 ghế.
Tỷ lệ này là đủ để NLD chiếm đa số trong Quốc hội có 664 ghế, bất chấp quy định hiến pháp do quân đội soạn thảo cho phép dành 25% số ghế cho các sĩ quan quân đội đang tại chức.
Mặc dù đảng của bà sẽ kiểm soát cơ quan lập pháp nhưng quân đội vẫn còn là một lực lượng mạnh, kiểm soát các bộ chủ chốt là Quốc phòng, Biên giới và Nội vụ. Cho đến nay, việc quân đội vẫn thể hiện sự hòa nhã đáng kể sau chính thất bại của họ đã gây sửng sốt cho nhiều người Myanmar từng sống và trải qua sự đàn áp và bạo lực của một quốc gia quân quản. Một cựu giáo viên đặt câu hỏi: “Tại sao họ đã không làm như vậy 30 năm trước”.
Tại một khu vực bỏ phiếu, bốn ứng cử viên thất bại của phe quân đội đã tổ chức một buổi lễ cho các ứng cử viên chiến thắng của đảng NLD, nơi các món quà được trao đổi, những bài phát biểu thân thiện được đưa ra và những bức ảnh được đăng tải lên Facebook.
Những thách thức lớn bà Suu Kyi đang phải đối mặt liên quan tới tất cả mọi vấn đề trong quốc gia này. Trong 5 thập niên, một loạt chính phủ quân sự kém cỏi và tham nhũng đã điều hành Myanmar, từng được gọi là Miến Điện, biến nó thành vùng đất của những chính sách kinh tế thảm họa. Bà Suu Kyi đối mặt với một cuộc chiến lâu dài, dường như không thể kết thúc với các nhóm sắc tộc ở các vùng núi và mối quan hệ của bà với các nhóm này là một vấn đề quan trọng cả về mặt quân sự lẫn chính trị.
Bà cho biết những ưu tiên của bà sẽ là nền pháp quyền, hòa bình trong nước và sửa đổi Hiến pháp. Sau một thời gian hợp lý, bà cũng cần thể hiện cho những cử tri ngưỡng mộ bà rằng bà có thể từng bước cải thiện đời sống của họ.
Ông Win Htein cho biết người phụ nữ đoạt giải Nobel này dường như đã chuẩn bị cho mình vai trò mới này trong những năm bà bị giam giữ. Bà đã đọc rất nhiều, nhất là về chính trị, tâm lý học và kinh tế học.
Ông nói: “Bà ấy luôn luôn suy nghĩ. Bà ấy nói bà không có thời gian để nghỉ ngơi. Lúc nào cũng suy nghĩ và lên kế hoạch. Bà ấy đã trưởng thành, đặc biệt là về mặt nhạy bén chính trị”.
Một trong những dấu hiệu đáng chú ý nhất trong sự chuyển đổi của bà từ một nhà chính trị theo chủ nghĩa lý tưởng thành một nhà chính trị thực dụng chính là việc bà đã từ chối lên tiếng chống lại sự đàn áp người Rohingya, một cộng đồng Hồi giáo thiểu số đã phải đối mặt với sự thảm sát và giam giữ trong những năm gần đây. Những tình cảm chống đối người Ronhingya ở Myammar ngày càng cao khiến bà Suu Kyi gặp rủi ro đánh mất sự ủng hộ chính trị nếu bà lên tiếng bênh vực họ.

Cuộc diệt chủng bị lãng quên ở Indonesia

b90b36ea6a81482ca37e9b0ce509e239_18
Nguồn: Gareth Evans, “Indonesia’s Forgotten Genocide”, Project Syndicate, 02/11/2015.
Biên dịch: Nguyễn Duy Hiếu | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Tháng 10 vừa qua đánh dấu 50 năm kể từ ngày diễn ra một trong những cuộc thảm sát tồi tệ nhất thế kỷ hai mươi được gây ra bởi lực lượng quân đội Indonesia. Dù vậy, lần kỷ niệm này trôi qua một cách gần như yên ắng. Cuộc thảm sát khoảng 500.000 thành viên và những người ủng hộ Đảng Cộng sản Indonesia (Indonesian Communist Party – PKI) trong giai đoạn 1965 – 1966 là cuộc diệt chủng ít được nhắc tới nhất của thế kỷ trước.
Việc vén bức màn về cuộc tắm máu đến giờ là đã quá chậm trễ, nhưng những người có quá khứ muốn che dấu dường như vẫn chống lại những nỗ lực này. Những người tổ chức Lễ hội Ubud dành cho Tác giả và Độc giả vốn nổi tiếng ở Bali đã nếm mùi một làn sóng kiểm duyệt mạnh tay mới, với việc các quan chức địa phương đe dọa sẽ hủy bỏ toàn bộ lễ hội nếu những phiên thảo luận được đề xuất về các cuộc thảm sát được tiến hành.
Các cuộc giết chóc bắt đầu vào tháng 10 năm 1965 do một cuộc đảo chính thất bại được cho là do PKI âm mưu tiến hành. Lực lượng quân đội đã phản ứng bằng cách quy cho PKI và những người ủng hộ như là một lực lượng vô thần của quỷ dữ phải bị thủ tiêu.  Các cuộc thảm sát là có chủ ý, có hệ thống và bao trùm cả đất nước, với tình trạng bạo lực ghê gớm và dữ dội nhất diễn ra ở miền trung và đông của đảo Java, Bali và phía bắc đảo Sumatra.
Năm nay cũng đánh dấu tròn một thế kỷ diễn ra cuộc diệt chủng người Armenia, một vấn đề mà các chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ liên tiếp nhau đã không ngừng phủ nhận. Nhưng ít nhất số phận của hơn một triệu người Thổ Nhĩ Kỳ gốc Armenia bị giết hoặc đày ải cho tới chết trong sa mạc Syria vào năm 1915 vì “thiếu trung thành” trong thời chiến vẫn là một chủ đề của các nghiên cứu, tìm hiểu và tranh luận quốc tế rộng rãi.
Ngược lại, cuộc thảm sát ở Indonesia vẫn là cuộc thảm sát duy nhất ở mức độ rộng lớn mà không phải là chủ đề được quan tâm kỹ lưỡng của quốc tế. Ngoài một bản báo cáo gần như không được chú ý của Hội đồng Nhân quyền Quốc gia vào năm 2012, cuộc thảm sát cũng không nhận được một chiến dịch tìm hiểu sự thật nào trong nước, chứ chưa nói đến quá trình hòa giải hay bồi thường cho các nạn nhân. Vấn đề này không được nhắc tới trong các sách giáo khoa lịch sử, bị lảng tránh bởi các nhà ngoại giao, và không có bất kỳ vị trí nào trong các tranh luận chính trị trong nước.
Câu chuyện bắt đầu bằng một cuộc đảo chính bất thành vào đêm 30 tháng 9 năm 1965 khi các sỹ quan quân đội cấp thấp, lấy lý do bảo vệ Tổng thống Sukarno trước các lực lượng cánh hữu, đã bắt và hành quyết tư lệnh quân đội cùng năm tướng lĩnh cấp cao. Buổi tối sau đó, Thiếu tướng Suharto -người sau này trở thành tổng thống – chỉ huy thành công một cuộc phản đảo chính. Hành động của Tướng Suharto đánh dấu sự bắt đầu việc kết thúc kỷ nguyên Sukarno, và khai sinh Trật tự Mới (New Order) của ông: một chế độ thân phương Tây và thân thiện với giới kinh doanh, điều sẽ chi phối Indonesia trong ba thập niên tiếp theo.
Suharto và các cộng sự của ông ngay lập tức quy trách nhiệm cho PKI là đạo diễn của “Phong trào 30 tháng Chín”, và phát tán các câu chuyện khủng khiếp về việc tra tấn và phân xác các sỹ quan đã bị hành hình. Các cuộc thảm sát trên diện rộng do quân đội chỉ đạo và lực lượng dân quân thực hiện tiếp nối ngay sau đó.
Các cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay về việc ai đã thực sự phải chịu trách nhiệm cho cuộc đảo chính ban đầu. Trong số những người bị quy trách nhiệm có bản thân tướng Suharto (người chắc chắn đã biết trước một vài chi tiết của các biến cố), và đã hành động với việc có hoặc không có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, và thậm chí của Bộ Ngoại giao Anh. Ý kiến chung của các học giả quốc tế là một nhóm nhỏ xung quan Aidit, lãnh đạo của PKI, đã tham gia nhưng chắc chắn không phải là toàn bộ đảng PKI, và sự tham gia đó chưa đủ biện minh cho hành động thanh trừng đẫm máu trên toàn quốc sau đó.
Với việc tướng Suharto lên nắm quyền, Indonesia chuyển mình chỉ trong vòng một đêm từ việc là một một quốc gia trung lập và phản đối mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc, chủ động thu hút sự chú ý của Liên Xô và Trung Quốc cộng sản, thành một đối tác tin cậy hơn của Hoa Kỳ, nước giờ đây coi Indonesia là một lực lượng chính mang lại sự ổn định trong một khu vực bất ổn. Kết quả là, lúc đó và cho đến giờ, Hoa Kỳ và các đồng minh (bao gồm cả đất nước tôi, cũng như chính phủ Australia nơi tôi từng là một thành viên) đều không mong muốn tìm hiểu rõ Trật tự Mới của Suharto đã được củng cố như thế nào. Ngay tại Indonesia, dù thời kỳ của Suharto đã trôi qua lâu, tình cảm chống cộng vẫn còn mạnh mẽ, những người sống sót vẫn sợ hãi, và những đòi hỏi công lý và trách nhiệm giải trình vẫn rất ít ỏi.
Tuy nhiên, mọi thứ có thể bắt đầu thay đổi, nhất là sau khi bộ phim tài liệu đặc biệt của Joshua Oppenheimer, Hành động Giết chóc (The Act of Killing) ra mắt cách đây ba năm. Oppenheimer đã ghi lại một cách chi tiết và kỹ càng đến mức đáng kinh ngạc việc một nhóm cựu lãnh đạo các biệt đội tử thần thừa nhận việc giết chóc mà họ đã thực hiện – không hề tỏ rõ bất kỳ sự hối hận và ăn năn nào, ít nhất là lúc ban đầu, mà ngược lại, họ mô tả bản thân như những người anh hùng của một quá trình cần thiết nhằm thanh tẩy quốc gia.
Một số người xem đã không bị thuyết phục bởi tính chính xác của bộ phim, hoặc vẫn còn thắc mắc với các nhân vật hư cấu đôi khi xuất hiện trong cấu trúc kiểu phim-lồng-trong-phim mà đạo diễn chọn. Tuy nhiên đối với tôi, các sự thật căn bản của bộ phim đã được thể hiện sâu sắc: The Act of Killing là bộ phim tài liệu mang nỗi buồn sâu thẳm và gây ám ảnh nhất mà tôi từng xem. Tôi hy vọng rằng bộ phim của Oppenheimer và phần tiếp theo mới được phát hành gần đây, Cái nhìn của sự Im lặng (The Look of Silence), sẽ có được những tác động và một lượng khán giả mà nó xứng đáng được hưởng – không chỉ tại các liên hoan phim quốc tế mà tại ngay chính Indonesia.
Joshua Oppenheimer nói về quá trình làm phim The Act of Killing. Nguồn: Youtube
Cuộc diệt chủng ở Indonesia – và nó xứng đáng được miêu tả như vậy, ngay cả khi lý do của sự kiện là ý thức hệ chứ không phải sắc tộc, tôn giáo, hay quốc gia – là một trường hợp báo động về tính chính trị trong các cuộc thảm sát hàng loạt. Nó chỉ ra cách các lãnh đạo có thể tránh bị trừng phạt khi ác quỷ hóa các đối thủ chính trị của mình, đạt được các kết cục có thể bào chữa được thông qua các hành động tàn bạo nhưng có vỏ bọc đạo đức. Đây chỉ là một lý do tại sao sự kiện thảm sát của Indonesia cần nhận được sự quan tâm của thế giới nhiều hơn so với hiện nay.
Gareth Evans là Hiệu trưởng trường Đại học Quốc gia Australia, đồng Chủ tịch của Trung tâm toàn cầu về Trách nhiệm Bảo vệ. Ông cũng từng là Chủ tịch của Nhóm nghiên cứu Khủng hoảng Quốc tế từ năm 2000 đến năm 2009, và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao Australia từ năm 1988 đến năm 1996. 
Hình: Tướng Suharto (thứ 2 từ trái sang) trong cuộc thanh trừng năm 1965. Nguồn: Aljazeera.
Copyright: Project Syndicate 2015 – Indonesia’s Forgotten Genocide

Sự tái trỗi dậy của những đường biên giới

N060988
Nguồn: Jean Quatremer, “La mystique de la frontière“, Liberation, 29/08/2015.
Biên dịch: Vũ Hồng Trang
Vấn đề ranh giới, đường kẻ vô hình ra đời vào thế kỷ 16 mà theo cách hiểu ngày nay là một đường phân định rõ rệt, đã lên tới cao trào sau Thế chiến thứ nhất: ranh giới chính trị tất nhiên là đường xác định giới hạn quyền lực của nhà nước và hiệu lực của các luật lệ; ranh giới quân sự với việc xây dựng những bức tường (như tuyến phòng thủ Maginot và Siegfried); ranh giới hành chính với việc mở rộng việc kiểm soát lai lịch; hay còn cả ranh giới tư tưởng hình thành bởi các hàng rào như Bức màn sắt. Tại các quốc gia độc tài, mà nhất là cộng sản, ngay cả những đường ranh giới trong nước cũng được thiết lập với quy định muốn đi lại phải có giấy phép.
Ranh giới, bên cạnh vai trò là đường giới hạn pháp lý, còn là ảo tưởng tạo ra một khu vực đồng nhất biệt lập với khu vực khác, trong tương quan giữa hai khu vực: hình thành nên khu bên trong và bên ngoài, trong nước và ngoài nước, an toàn và hiểm họa,… Việc loại bỏ những khu vực và những đường biên giới này từ lâu đã là một mơ ước để con người có thể tự do di chuyển từ nơi này sang nơi khác, một lời khẳng định của chủ nghĩa tự do trong một thế giới vốn đã tự do hóa việc di chuyển vốn và hàng hóa nhưng lại không ngừng nhấn mạnh các loại kiểm soát sự di chuyển của con người.
Sự kiện chủ nghĩa cộng sản Đông Âu sụp đổ năm 1989, và việc các dân tộc Đông Âu được giải phóng khiến người ta tin rằng thời khắc này cuối cùng đã đến: sự cáo chung của lịch sử. Chỉ ngay sau đó, liên minh châu Âu, ra đời từ giấc mơ  hòa bình, đã hiện thực hóa một không gian không biên giới đầu tiên trong lịch sử hiện đại với việc Hiệp ước Schengen xóa  bỏ mọi kiểm soát đối với biên giới nội bộ năm 1995. Ấy vậy mà tấm gương của châu Âu vẫn không được noi theo.
Trái lại, những biên giới và những bức tường vẫn ngày càng mọc lên. Không chỉ là những bức tường đến giờ vẫn chưa sụp đổ giữa Bắc và Nam Triều Tiên và giữa Bắc và Nam đảo Síp, mà trên khắp hành tinh tiếp tục xuất hiện thêm những bức tường mới vì lý do quân sự hay phần lớn là để ngăn chặn việc di chuyển của con người. Bức tường ngăn cách Israel và những phần lãnh thổ bị chiếm đóng, giữa nước Mỹ và Mexico, giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, giữa Ấn Độ và Bangladesh, giữa Botswana và Zimbawe, v.v… Đáng buồn hơn, đến lượt liên minh châu Âu cũng bắt đầu xây dựng những bức tưởng ở biên giới ngoài châu lục này: giữa Tây Ban Nha và Ma-rốc,  giữa Bungary và Thổ Nhĩ Kỳ, giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, giữa Hungary và Serbia.
Ranh giới ngày càng tinh vi hơn: nó không chỉ là vật chất mà còn ở dạng phi vật chất: camera theo dõi, hệ thống thông tin được cải tiến (SIS – Système d’information Schengen: Hệ thống Thông tin Schengen, hay PNR – Passenger Name Recorder: Hệ thống Tên Hành khách), hệ thống giám sát vệ tinh và hàng không. Hơn thế nữa, ranh giới không chỉ còn giới hạn là một đường đơn giản. Trong khu vực Schengen, các kiểm soát không những diễn ra ở dải đất 20 km chạy dọc hai bên biên giới ngoài mà còn diễn ra ngay bên trong khối, trong chính quốc gia mà người ta mang quốc tịch thông qua kiểm tra visa tại các sân bay. Đường biên giới đã hiện hữu ở khắp mọi nơi. Thế kỷ 21 đã vượt qua thế kỷ 20.
Thế nhưng, chúng ta nghe thấy chuyện nhiều người đòi hỏi tái thiết lập các đường biên giới nội bộ Liên minh châu Âu để chặn dòng người nhập cư ồ ạt tràn vào hay để ngăn chủ nghĩa khủng bố (tùy theo cách hiểu của độc giả). Theo đúng logic, sự bí ẩn của việc ranh giới không ngừng được xây thêm không hẳn chỉ dừng lại ở đường biên giới quốc gia: Tại sao không tái thiết lập các hàng rào thuế để ngăn người nhập cư (đặt tại cửa ngỏ vào các thành phố) hay giấy phép di chuyển nội bộ để kiểm soát việc đi lại của cá nhân bởi rõ ràng chủ nghĩa khủng bố chủ yếu là vấn đề của công dân nước đó?
Liệu đây có phải là một sự thổi phồng? Hoàn toàn không. Việc  giám sát  này đã được thực thi bởi nhu cầu cần truy lùng những đối tượng bị tình nghi là khủng bố hay những người nhập cư trái phép. Luật của Pháp và an ninh nội địa và hệ thống kiểm soát căn cước được lập ra để làm điều này. Tư tưởng thiết lập biên giới nghiêm ngặt dẫn tới việc mở rộng khái niệm ranh giới vốn dĩ thuộc phạm trù tự nhiên trở thành thứ hiện hữu trên toàn bộ lãnh thổ: bởi lẽ tất cả không trừ một ai đều trở thành đối tượng tình nghi.
Một ranh giới ra đời đồng nghĩa với việc một loạt các quyền tự do bị chối bỏ: tự do đi lại và làm việc, quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư, nghĩa vụ của những nhà chức trách lý giải việc từ chối nhập cảnh, v.v… Biên giới có mặt ở đâu thì sự tùy tiện về mặt hành chính cũng đi theo đến đó. Cái giá của an ninh là sự tự do. Và bất chấp việc an ninh có được đảm bảo hay không, chẳng một đường biên giới nào ngăn chặn được điều gì: quân đội Đức với chính sách bắn chết tại chỗ vẫn chẳng thể kiểm soát được biên giới với Tây Ban Nha, cũng như bức tường ngăn cách Mỹ và Mexico cũng không ngăn nổi dòng người Mỹ Latinh di cư. Địa Trung Hải, một biên giới tự nhiên tươi đẹp, không làm nản lòng những người nhập cư mạo hiểm tính mạng để thoát khỏi xung đột và khổ đau. Những bức tường đã thất bại từ Vạn lý trường thành của Trung Quốc tới Bức màn Thép hay bức tường Hadrian (Anh) cho ta thấy được phần nào số phận của những đế chế tự cô lập với thế giới bên ngoài.

Hình: Bức tường Hadrian dài 73 dặm ở Anh. Nguồn: english-heritage.org.uk

Wednesday, November 25, 2015

24/11/1969: Mỹ tuyên bố xét xử chỉ huy vụ thảm sát Mỹ Lai

william-calley-1971
Nguồn: “U.S. Army announces Calley will be tried,” History.com (truy cập ngày 23/11/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1969, các quan chức quân đội Mỹ chính thức tuyên bố Trung úy William L. Calley – chỉ huy đại đội Charlie gây ra vụ thảm sát Mỹ Lai – sẽ được đưa ra tòa án binh xét xử với cáo cuộc sát hại 109 dân thường Việt Nam tại làng Mỹ Lai, Quảng Ngãi.
Tháng 4 năm 1968, tại Washington, Bộ trưởng Stanley Resor và Tham mưu trưởng William C. Westmoreland của Lục quân Hoa Kỳ đã thông báo chỉ định Trung tướng William R. Peers “tìm hiểu bản chất và phạm vi” của điều tra ban đầu về vụ thảm sát Mỹ Lai. Bản điều tra ban đầu, được thực hiện bởi một đơn vị có liên quan đến vụ việc, đã kết luận rằng không có cuộc thảm sát nào diễn ra, và không có hành động nào khác được tiến hành.
Thảm sát Mỹ Lai diễn ra vào tháng 3 năm 1968 khi khoảng 200 đến 500 người dân Nam Việt Nam bị sát hại bởi binh lính thuộc Đại đội C, Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn bộ binh số 20, Lữ đoàn bộ binh số 11 thuộc Sư đoàn bộ binh số 23, Lục quân Hoa Kỳ. Trong chiến dịch càn quét một cụm thôn, lính Mỹ, đặc biệt là những người thuộc trung đội số 1 của Trung úy Calley, đã xả súng bừa bãi vào người dân khi họ đang chạy khỏi nhà. Sau đó lính Mỹ dồn những ai còn sống vào một mương nước, nơi Calley ra lệnh “giải quyết họ.”
Sau cuộc điều tra của Cơ quan Điều tra Hình sự Lục quân, 14 sĩ quan đã bị buộc tội. Tuy nhiên tất cả cáo trạng rốt cuộc đều được bãi bỏ hoặc tha bổng, ngoại trừ Calley bị kết tội sát hại 22 dân thường với mức án chung thân. Bản án của Calley được rút ngắn hai lần và cuối cùng ông được ân xá vào tháng 10 năm 1974.
Ảnh: Trung úy William L. Calley trong phiên tòa quân sự xét xử vụ thảm sát Mỹ Lai tại Fort Benning. Nguồn: Joe Holloway Jr./AP.

Người Hồi giáo Sunni và Shia khác nhau ở chỗ nào?

20130525_blp512
Nguồn: “What is the difference between Sunni and Shia Muslims?”, The Economist, 28.05.2013
Biên dịch: Vũ Hồng Trang
Các cuộc xung đột giữa hai giáo phái lớn của đạo Hồi, dòng Sunni và dòng Shia, diễn ra trên khắp thế giới Hồi giáo. Tại Trung Đông, sự kết hợp mạnh mẽ giữa tôn giáo và chính trị đã làm sâu sắc thêm sự chia rẽ giữa chính phủ Shia của Iran và các quốc gia vùng Vịnh, nơi tồn tại các chính phủ Sunni. Năm ngoái, một báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Pew, một viện nghiên cứu chính sách, chỉ ra rằng 40% người Sunni không coi những người Shia là những người Hồi giáo thực thụ. Vậy thì  rốt cuộc điều gì khiến dòng Sunni khác biệt với dòng Shia và sự chia rẽ ấy sâu sắc đến mức độ nào?
Cuộc tranh luận này bắt nguồn từ khi người sáng lập nên đạo Hồi , nhà tiên tri Muhammad, qua đời năm 632. Người dân các bộ lạc Ả-rập đi theo Muhammad đã bất đồng về việc ai là người kế thừa di sản quyền lực chính trị lẫn tôn giáo của ông. Phần lớn các tín đồ mà sau này trở thành người Sunni, và ngày nay chiếm 80% số người Hồi giáo, ủng hộ Abu Bakr, người bạn và cũng là cha của Aisha, vợ của nhà tiên tri. Số khác cho rằng thân nhân của Muhammad mới là những người kế vị chính đáng. Họ khẳng định nhà tiên tri đã xức dầu cho Ali, người anh họ và cũng là con rể của ngài. Họ được gọi là Shia, một cách viết ngắn gọn của “shiaat Ali”, nghĩa là những người đi theo Ali.
Những người ủng hộ Abu Bakr đã giành chiến thắng, mặc dù Ali cũng đã cai trị một thời gian ngắn với tư cách là khalip* đệ tứ, danh hiệu được trao cho người kế thừa Muhammad. Sự chia rẽ trong lòng Hồi giáo càng sâu sắc thêm khi con trai của Ali là Hussein bị giết hại tại Karbala (Iraq ngày nay) vào năm 680 bởi đạo quân dưới thời một  khalip người Sunni. Giới cai trị Sunni vẫn tiếp tục giữ độc quyền chính trị, trong khi người Shia chỉ chiếm thiểu số ở nhà nước này. Họ hướng về các lãnh tụ Imam, tức mười hai người hậu duệ trực tiếp đầu tiên của Ali, để được chỉ bảo. Thời gian trôi đi, tín ngưỡng tôn giáo của hai nhóm bắt đầu phân tách.
1,6 tỷ người Hồi giáo trên thế giới hôm nay đều công nhận rằng Allah là vị Chúa duy nhất và Muhammad là sứ giả của ngài. Họ tuân theo năm trụ cột nghi thức của Hồi giáo, trong đó có Ramadan (tháng ăn chay) và có chung thánh kinh là kinh Koran. Nhưng trong khi người Sunni phụ thuộc rất nhiều vào nhà tiên tri và việc thực hành và giáo lý của ngài (“Sunna”), thì người Shia cho rằng các thủ lĩnh ayatollah của họ là hiện thân của Chúa trên trái đất. Điều này đã khiến người Sunni buộc tội người Shia thờ dị giáo, trong khi người Shia chỉ ra rằng chính chủ nghĩa giáo điều Sunni đã làm hình thành các giáo phái cực đoan như dòng Wahhabi khắc nghiệt. Hầu hết các dòng Shia nhấn mạnh vào niềm tin rằng vị lãnh tụ Imam thứ mười hai và cũng là cuối cùng đang ẩn náu đâu đó (được gọi là “Imam ẩn khuất”) và sẽ tái xuất hiện một ngày nào đó để thực hiện thánh ý. Trong khi đó, cảm nhận về sự yếu thế và bị áp bức đã dẫn đến những nghi lễ tang thương như Ashura, mà ở đó các tín đồ tự trừng phạt mình bằng roi để tưởng niệm cái chết của Hussein tại Karbala.
Chưa bao giờ có một cuộc đụng độ giữa người Shia và người Sunni tương tự như quy mô của cuộc Chiến tranh Ba mươi năm vốn chứng kiến các giáo phái Kitô giao tranh lẫn nhau trong thế kỷ 17 ở châu Âu và dẫn tới sự mất mát to lớn về con người. Điều này một phần là do những người Shia ý thức được tình trạng thiểu số của họ và tự rút ​​lui. Các đường phân chia người Hồi giáo ở Trung Đông hiện nay đang được vạch ra bởi cả yếu tố chính trị cũng như  tôn giáo. “Vùng lưỡi liềm Shia”, vốn chạy từ Iran, tới chính quyền tổng thống Assad ở Damascus, Syria, rồi đến tổ chức chính trị Hezbollah ở Li-băng, đã từng được nhiều nhân vật Sunni tầm cỡ ngợi ca. Nhưng những cuộc cách mạng trong khu vực đã khiến các chính phủ Shia đối đầu với các quốc gia Sunni vùng vịnh như Ả-rập Xê-út và Qatar, những nước đã hỗ trợ tài chính cho các tín đồ dòng Sunni (ở các nước vùng Lưỡi liềm Shia) . Điều này đã củng cố sự hung hăng của người Sunni và khiến người Shia cảm thấy bị đe dọa nhiều hơn so với bình thường. Mặc dù vậy, trong hầu hết các trường hợp, các thành viên của hai giáo phái vẫn sống hòa hợp với nhau.
Clip: Hồi giáo Sunni, Shiite và ngọn nguồn xung đột ở Trung Đông. Nguồn: Youtube.
———-
*Khaliph: lãnh tụ chính trị và tôn giáo, người kế thừa nhà tiên tri Muhammad.

Số phận Assad quyết định tương lai xung đột Syria

ST_20151124_VNASSAD_1861321
Nguồn: “Assad’s fate pivotal to resolving Syrian conflict”, The Straits Times, 24/11/2015.
Biên dịch: Nguyễn Ngọc Tường Ngân
Phần lớn thế giới đều đồng ý rằng Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria (ISIS) phải bị tiêu diệt. Nhưng đạt được điều đó bằng cách nào và liệu loại bỏ Tổng thống Syria Bashar al-Assad có giúp thúc đẩy hay cản trở tiến trình đó vẫn còn là một đề tài gây tranh cãi kịch liệt.
Các cuộc tấn công khủng bố tại Paris đã thúc đẩy các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết cuộc nội chiến ở Syria vốn góp phần dẫn tới sự trỗi dậy của ISIS, nhóm chiến binh chịu trách nhiệm về các cuộc tàn sát khiến 130 người thiệt mạng tại thủ đô nước Pháp.
Tuy nhiên, sau hơn 4 năm rưỡi, những trở ngại đối với hòa bình ở Syria vẫn không thay đổi, trong đó trở ngại lớn nhất là số phận của Tổng thống Bashar al-Assad.
Cuộc xung đột bắt đầu vào tháng 3 năm 2011 với các cuộc biểu tình ôn hòa, sau đó phát triển thành một cuộc nội chiến vốn đã hút các cường quốc thế giới tham gia vào. Một số cường quốc chia sẻ các mục tiêu lớn trong khi những quốc gia khác, như các đối thủ trong khu vực là Iran và Ả-rập Saudi, lại có xung đột lợi ích.
Iran do người Hồi giáo dòng Shia chiếm đa số và hỗ trợ ông Assad, người thuộc phái Alawite vốn là một nhánh của người Hồi giáo dòng Shia. Chế độ của ông từ lâu đã đàn áp những người Syria thuộc dòng Sunni, tạo cảm hứng cho phe đối lập trong nước và thu hút các chiến binh Sunni từng bị loại ra khỏi quân đội Iraq sau năm 2003 tham gia cuộc chiến, thường trong hàng ngũ của ISIS.
Ở phía bên kia của cuộc kình địch khu vực giữa các giáo phái là Ả-rập Saudi vốn có người Sunni chiếm đa số, và nước này ủng hộ các nhóm tìm cách hạ bệ ông Assad.
Nga khiến Hoa Kỳ bất ngờ vào cuối tháng Chín vừa qua với các cuộc không kích nhằm vào ISIS và các nhóm khác mà nước này coi là khủng bố.
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phàn nàn rằng các mục tiêu không kích của Nga bao gồm cả các nhóm đối lập Syria được hỗ trợ bởi Washington. Ông nói rằng các hành động của Tổng thống Nga Vladimir Putin là “nhằm vực dậy chế độ Assad”.
Nhưng sau cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo bên lề thượng đỉnh nhóm G20 tại Thổ Nhĩ Kỳ hồi đầu tháng này, ông Putin nói hai bên đã “bắt đầu nhận ra rằng chúng tôi chỉ có thể chiến đấu hiệu quả nếu phối hợp cùng nhau”.
Một thỏa thuận giữa 17 quốc gia, bao gồm cả Iran và Nga, vốn gặp nhau tại Vienna vào ngày 14 tháng 11, đã đưa ra một khung thời gian để cho các nhóm đối lập Syria soạn thảo một bản hiến pháp và bầu ra một chính phủ mới vào năm 2017. Tuy nhiên, thỏa thuận Vienna vẫn còn để ngỏ nhiều vấn đề then chốt, bao gồm câu hỏi nhóm nào trong số hàng trăm nhóm đối lập sẽ được tham gia tiến trình chính trị này.
Thỏa thuân này không thể kết thúc chiến tranh, vì ISIS, Mặt trận Nusra thuộc Al-Qaeda và một số nhóm Hồi giáo khác đã bị loại trừ. Tuy nhiên, nó có thể dẫn đến một lệnh ngừng bắn giữa các lực lượng của Assad với một số nhóm phiến quân, và sau đó hai bên có thể hợp tác với nhau để chống ISIS.
Thỏa thuận Vienna cũng không xác định liệu một chính phủ mới sẽ có quyền hành pháp đầy đủ hay không. Đây là một đòi hỏi quan trọng đối với những người phản đối việc ông Assad đóng một vai trò nào đó trong quá trình quá độ.
Và liệu ông Assad có cam kết tham gia một tiến trình vốn có thể chấm dứt chế độ của ông hay không? Ông đã luôn tuyên bố rằng các thế lực bên ngoài không có quyền quyết định vấn đề đó và ông sẽ chỉ lắng nghe ý muốn người dân của mình. Nhưng trong các vùng thuộc Syria mà ông vẫn quản lý – gồm 60 phần trăm dân số và 25 phần trăm lãnh thổ cả nước – thì một cuộc bỏ phiếu tự do về tương lai của Assad là điều không thể xảy ra.
Assad nói với tạp chí Pháp Valeurs Actuelles hôm 12 tháng 11 rằng “Hiến pháp quy định chức Tổng thống, và (chỉ có) Hiến pháp mới có thể làm cho ông ta ra đi, thông qua Quốc hội, thông qua bầu cử, thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, vv…”.
Và dù Mỹ và các đồng minh nói rằng các tổ chức quân sự và chính phủ Syria nên vẫn được giữ nguyên sau khi ông Assad ra đi, nhưng những người trung thành với ông vốn thống trị các thể chế này có thể gây bất ổn cho vị lãnh đạo nhà nước mới nào tìm cách sa thải họ.
“Assad đã tạo ra một nhà nước theo hình dung của mình”, Giáo sư Joshua Landis tại Trung tâm Nghiên cứu Trung Đông thuộc Đại học Oklahoma nói. “Cái giá của sự thay đổi chế độ sẽ là sự hỗn loạn.”

Tác động từ di sản thuộc địa Algeria lên nước Pháp

RTX15KW4
Nguồn: Jonathan Laurence, “The Algerian legacy”, Foreign Affairs, 16/01/2015.
Biên dịch: Vũ Hồng Trang | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Kể từ sau các cuộc tấn công vào tòa soạn tạp chí châm biếm Charlie Hebdo và một siêu thị kosher của người Do Thái ở Paris, các nhà lãnh đạo Pháp và thế giới càng khẳng định quan điểm chung rằng những hành vi này đánh dấu một sự leo thang trong cuộc chiến tranh với chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan trên toàn cầu. Để thể hiện sự quyết tâm đương đầu với thách thức chung này, 40 nhà lãnh đạo từ Italia đến Mali, từ Israel đến Palestine đã tham gia diễu hành từ quảng trường Cộng hòa tới quảng trường Dân tộc (tại Paris) Chủ nhật tuần trước (tháng 1/2015 – NBT).
Những điểm giống nhau giữa vụ thảm sát này và những sự kiện xảy ra trước đây nhằm trừng phạt những đối tượng được cho là xúc phạm đạo Hồi và nhà tiên tri Muhammad là không thể phủ nhận. Lệnh truy nã tử hình nhà văn Anh gốc Ấn Độ Salman Rushdie năm 1989, vụ giết hại nhà làm phim người Hà Lan Theo van Gogh năm 2002, và vụ sát hại không thành họa sĩ biếm họa Đan Mạch Kurt Westergaard năm 2010 cũng nhằm vào các nghệ sĩ và nhà văn.
Việc những kẻ ra tay là các phần tử thánh chiến cũng là điều không còn lạ lẫm: những người trẻ tuổi sống ở một nước phương Tây, bị cô lập và thất vọng đã tìm đến một lực lượng cực đoan có tiếng tăm. Tất cả điều này đều cho thấy mối liên quan giữa các sự kiện xảy ra ở Pháp với cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu. Tiêu đề của báo Le Monde một ngày sau thảm họa khủng bố ở Paris, “Sự kiện 11/9 của Pháp,” và một phim hoạt hình được chiếu lại rộng rãi về một chiếc máy bay bay vào hai tòa tháp hình bút chì cho thấy rõ khía cạnh này.
Thế nhưng vẫn còn đó những dấu hiệu khác – quy mô và cường độ của các cuộc tấn công cũng như việc bao gồm một mục tiêu Do Thái bên cạnh các họa sĩ truyện tranh báng bổ cho thấy các sự kiện cuối tuần qua cũng có thể là sự tiếp nối của một chương chưa kết thúc trong lịch sử Pháp: cuộc chiến Algeria.
Mối liên hệ dai dẳng với cuộc chiến Algeria gây đau thương cho cả hai nước liên quan. Trước hai anh em nhà Kouachi, Cherif và Said, là phần tử khủng bố Mohammed Merah ở Toulouse vào năm 2012, và trước đó nữa là Khaled Kelkal từ Lyon vào năm 1995. Những kẻ tấn công hôm thứ Tư tuần trước đã được tuyển dụng và kích động bởi Farid Benyattou, một người Pháp gốc Algeria bị cầm tù một thời gian ngắn với các tội danh khủng bố khác.
Nhưng có một sự cảnh báo quan trọng về mối liên kết này: đây là những người Pháp, chứ không phải người Algeria. Kelkal rời Algeria khi mới 2 tuổi, và Merah, Benyattou, và Kouachis đều được sinh ra tại Pháp, theo học trường Pháp, có bạn gái Pháp, và bị giam giữ ở các nhà lao Pháp. Đó là lý do vì sao các nhà chức trách Algeria đã do dự khi người Pháp có ý muốn đưa thi thể của Merah “hồi hương” sau cuộc tấn công năm 2012. Lần này, các nhà quan sát Algeria nhấn mạnh sự hy sinh của hai nạn nhân người Pháp gốc Algeria – Mustapha Ourroud, một biên tập viên tại tòa báo Charlie Hebdo và sĩ quan cảnh sát Ahmed Merabet – cả hai người trong số họ đều bị hai anh em Kouachi bắn chết và được chôn cất tại Paris tuần này.
Vụ tấn công Charlie Hebdo ngày thứ Tư là vụ khủng bố đẫm máu nhất của Pháp kể từ năm 1961, khi một quả bom tấn công đoàn xe lửa từ Strasbourg đến Paris làm 28 người thiệt mạng. Cuộc tấn công đó cũng có dính líu tới Algeria, nhưng không phải là do Algeria. Trái lại, một nhóm người Pháp theo chủ nghĩa dân tộc – Tổ chức quân đội bí mật (OAS) – không muốn Pháp từ bỏ Algeria đã cài bom. Tổ chức OAS đã ám sát các quan chức Pháp bấy giờ đang tham gia đàm phán rút khỏi Bắc Phi và cho nổ hàng chục quả bom giết hại hàng trăm lính Pháp và hàng ngàn người dân Pháp.
Tất nhiên, cuối cùng OAS cũng không đạt được mục tiêu. Trong thời gian Pháp rút khỏi Algeria một cách hỗn loạn, hàng triệu bàn chân đen (pieds noirs – những người Pháp da trắng sống ở Algeria trước khi Algeria giành độc lập- ND) chạy trốn đến một vùng đất mà họ chưa hề biết tới. Đối với họ và những người ủng hộ đế chế Pháp khác, độc lập (cho thuộc địa) đồng nghĩa với phản quốc. Thật vậy, năm OAS khởi động các cuộc tấn công, ứng viên tổng thống tương lai Jean Marie Le Pen đã thành lập “Mặt trận Quốc gia Algeria thuộc Pháp.”
Tuy nhiên, ngay sau đó, mối quan tâm của Pháp với Algeria suy giảm, và một thập niên sau, Le Pen điều chỉnh tên đảng chỉ còn là “Mặt trận quốc gia”. Đến năm 1991, khi những người Hồi giáo đang trên đà giành 80 phần trăm số ghế quốc hội Algeria và chính phủ nước này hủy các cuộc bầu cử, Pháp chỉ giới hạn chỉ trích của mình bằng một lời nhận xét nhẹ nhàng về quyết định “có vẻ hơi bất thường”. Điều này cũng đủ để khiến người Algeria phiền lòng và kích động sự giận dữ của người Hồi giáo. Nhưng ngay cả khi chính phủ Pháp thực hiện bất cứ điều gì khác thì cũng vẫn có khả năng bị cáo buộc về những ý định thực dân kiểu mới.
Một cuộc nội chiến đẫm máu khác lại nổ ra ở Algeria vào thập niên 1990. Vào thời đó, nhiều nhà văn, nghệ sĩ và ca sĩ sáng giá nhất Algeria đã trở thành nạn nhân của những kẻ Hồi giáo cực đoan tàn bạo. Sự đoàn kết hiện tại của các hoạ sĩ biếm họa Algeria, những người được hưởng tự do ngôn luận đáng kể tại khoảng ba chục nhật báo của đất nước này, ủng hộ lập trường của trí thức Pháp chống lại việc các phần tử Hồi giáo cực đoan giết hại đồng nghiệp là thường dân của họ ở Algeria.
Chính trong bối cảnh này mà Kelkal, kẻ khủng bố Hồi giáo đầu tiên sinh ra và lớn lên chính trên đất Pháp, đã giết hại 8 người đồng hương vào năm 1995 và làm bị thương hàng chục người trong các cuộc tấn công riêng biệt khác, trong đó có một xe bom phát nổ bên ngoài một trường học Do Thái ở Villeurbane. Khi Kelkal gài bom trên đoạn đường sắt gần quê nhà năm 1995, hắn đã thực hiện tiếp điều mà OSA đã để dang dở hàng thập kỷ trước đó.
Lực lượng đặc nhiệm, dựa vào dấu vân tay Kelkal để lại, đã truy bắt hắn trong một cuộc truy lùng kéo dài hai ngày. Kelkal bị giết chết trên truyền hình trực tiếp, một cảnh tượng mà sau này công chúng Pháp đã chứng kiến thêm hai lần khác: với Merah và Kouachis.
Những sự kiện khủng khiếp này đã dẫn đến cuộc diễu hành thể hiện sự đoàn kết lớn nhất trong thời gian gần đây. Nhưng Tổng thống Pháp Francois Hollande từ chối mời đảng Mặt trận quốc gia góp mặt, và vì thế đảng này đã tổ chức các cuộc biểu tình nhỏ lẻ, riêng biệt vào chủ nhật tuần trước. Cuộc diễu hành cũng không huy động được số lượng lớn hậu duệ của đế chế: những người trẻ gốc Ả Rập sống ở vùng ngoại ô.
Những hạn chế ít người thấy của sự biểu dương lẽ ra đã ấn tượng ngày chủ nhật vừa qua chỉ rõ mức độ lúng túng của các nhà lãnh đạo Pháp trong việc đối phó với những hậu quả chính trị của việc để tuột mất Algeria: một nhóm cánh hữu bền bỉ và một nhóm thiểu số Hồi giáo lớn.  Cả hai hiện đều không được hưởng bất cứ sự đại diện tương xứng nào trong quốc hội Pháp 50 năm sau đó.
Một tàn dư lịch sử thứ ba cũng đã góp phần tạo nên diễn biến tạp này: sự hình thành cộng đồng Do Thái Sephardi[1] ở Pháp. Cho tới thập niên 1970, người gốc Bắc Phi chiếm một phần lớn cộng đồng người Do Thái Pháp, nhờ sự di cư của người Do Thái từ Maghreb (vùng đất bao gồm Maroc, Angeria và Tunisia) và việc loại bỏ người Do Thái Ashkenazi (những người Do Thái có nguồn gốc Trung và Đông Âu – ND) bị trục xuất dưới chế độ Vichy. Pháp do đó gặp phải vấn đề mối quan hệ xấu đi giữa người Do Thái và người Hồi giáo trong cộng đồng dân Ả Rập ở nước mình. Hàng trăm ngàn người Do Thái tị nạn (từ Algeria) mà nhiều trong số đó là công dân Pháp hợp pháp đã hoàn toàn nhận thức được nhu cầu thiết lập một nhà nước Do Thái an toàn. Các bên cực hữu, đã bầu lên những quan chức địa phương đầu tiên vào cuối thập niên 1970, đã chứng kiến một cách kinh hãi căng thẳng gia tăng giữa các cộng đồng thiểu số mà lẽ ra nên ở lại Algeria thuộc Pháp.
Về việc tiếng nói của người Do Thái được lắng nghe nhiều hơn những người Hồi giáo và những người theo phe cánh hữu ở các Bộ và các cơ quan quyền lực của Pháp, thì đó là vì các tổ chức này ban đầu được lập ra cho và bởi người Do Thái Ashkenazi: Hội đồng giáo chủ Do Thái (Consistoire Israelite) do Napoleon thành lập vào năm 1807 và tổ chức vận động hành lang Do Thái mang tên Hội đồng đại diện các tổ chức Do Thái của Pháp (Conseil Représentatif des Institutions juives de France – CRIF), được thành lập dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng vào năm 1943. Mặc dù có nguồn gốc xa xôi, những người Do thái Sephardi mới đặt chân tới cuối cùng cũng được gia nhập vào các tổ chức này.
Dẫu cho chủ nghĩa tuyệt đối của lý tưởng cộng hòa Pháp đã truyền cảm hứng cho các nền dân chủ trên toàn thế giới trong nhiều thế kỷ, chính sự điều chỉnh dần dần của những lý tưởng ấy sao cho phù hợp với thực tế xã hội và nhân khẩu học – trước tiên cho người Do Thái và trong tương lai, có lẽ, cho cộng đồng Hồi giáo hoặc cánh hữu – mới là điều có thể đem đến cho nước Pháp sự ổn định chính trị lâu dài.
Việc chấp nhận các thể chế cộng đồng tôn giáo – kể cả các thể chế cho những người Hồi giáo – trở thành một phần của đời sống chính trị Pháp đồng nghĩa với việc cho phép tồn tại một loại hình chủ nghĩa cộng đồng mềm mỏng: một sự trung gian giữa tư tưởng “hoàn toàn tự do” ở Mỹ vốn bị châm biếm rất nhiều với sự khước từ lâu nay những mối liên hệ công dân bên ngoài quan hệ với nhà nước của Cộng hòa Pháp. Các quy định bầu cử khiến Mặt trận Quốc gia ở không có thể có mặt trong quốc hội từ năm 1988 đến 2012 đã dẫn tới việc 25 % cử tri Pháp lựa chọn đảng này đại diện cho họ tại Brussels (tức EU) tháng Năm vừa qua.
Các cuộc tấn công tuần qua dường như đã đánh thức chính trị gia Pháp khỏi sự mê muội này. Giờ đây khi đang có được sự tập trung tuyệt đối, họ sẽ cần phải chọn cách thúc đẩy sự hòa nhập bao dung chưa từng có đối với các thành phần bị bỏ rơi của nền Đệ ngũ Cộng hòa, vốn có tính chính danh đang bị đe dọa.
Càng thành thật đối mặt với lịch sử vô cùng phức tạp này, tạo ra liên minh càng lớn nhằm đảm bảo sự thống nhất quốc gia tại một thời điểm kinh hoàng, bao gồm tất cả những người tin vào pháp trị, Hồi giáo, Do Thái, và cả cánh hữu – Pháp sẽ càng nhanh chóng tìm thấy một con đường vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay.
Jonathan Laurence là phó giáo sư ngành khoa học chính trị trại Boston College và nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ và châu Âu, Viện Brookings.
Hình: Một cổ động viên bóng đá Algeria ăn mừng trước Khải Hoàn Môn, Paris. Nguồn: Pri.org.
———————–
[1] Tức cộng đồng người Do Thái từng sống ở Tây Ban Nha, sau đó bị trục xuất sang các nơi khác, trong đó có Bắc Phi, vào khoảng năm 1492.

Ông Medvedev: “Hành động tội phạm liều lĩnh của Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đến 3 hậu quả”

"Hành động tội phạm liều lĩnh của nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ khi bắn rơi máy bay Nga đã dẫn đến ba hậu quả", Sputnik dẫn lời Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev cho biết.

Ông Medvedev: “Hành động tội phạm liều lĩnh của Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đến 3 hậu quả”
Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev.
Hành động của Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ máy bay Su-24 của Nga đã dẫn đến việc làm đổ vỡ mối quan hệ láng giềng thân thiện lâu năm giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ, bao gồm cả trong lĩnh vực kinh tế lẫn nhân đạo, thiệt hại này sẽ rất khó có thể bù đắp, Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev tuyên bố.
"Hành động tội phạm liều lĩnh của nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ khi bắn rơi máy bay Nga đã dẫn đến ba hậu quả.
Thứ nhất, căng thẳng nguy hiểm trong quan hệ giữa Nga và NATO, vốn không thể biện minh bởi bất cứ lợi ích nào, kể cả việc bảo vệ các biên giới quốc gia.
Thứ hai, Thổ Nhĩ Kỳ, bằng hành động của mình đã chứng tỏ, trên thực tế, sự bảo vệ các chiến binh của "Nhà nước Hồi giáo". Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên nếu tính đến những thông tin đã có về lợi ích tài chính trực tiếp của một số quan chức Thổ Nhĩ Kỳ, liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm dầu được sản xuất từ các nhà máy so ISIL sở hữu.
Và thứ ba, làm suy yếu quan hệ láng giềng thân thiện từ lâu giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ, kể cả trong lĩnh vực kinh tế và nhân đạo. Thiệt hại này sẽ rất khó bù đắp, hậu quả trực tiếp của nó có thể sẽ là việc từ chối hàng loạt những dự án chung quan trọng cũng như việc các công ty Thổ Nhĩ Kỳ đánh mất vị thế của mình trên thị trường Nga", Thủ tướng Medvedev tuyên bố.
Hôm 24/11, Thổ Nhĩ Kỳ đã điều máy bay F16 bắn hạ chiến đấu cơ Su-24 của Nga vì "xâm phạm không phận Thổ Nhĩ Kỳ". Trong khi đó, phía Nga khẳng định máy bay Su-24 đang bay trên không phận Syria.
THÚY HÀ

Tên lửa S-400 của Nga sẽ “kiểm soát bầu trời ở Syria”



 26/11/2015

- Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đồng ý với đề nghị của Bộ Quốc phòng về việc đưa hệ thống tên lửa phòng không tiên tiến S-400 đến căn cứ không quân "Hmeymim" ở Syria, phát ngôn viên của Tổng thống Nga, ông Dmitry Peskov cho biết hôm thứ Tư.

Tên lửa S-400 của Nga sẽ “kiểm soát bầu trời ở Syria”
Nga tuyên bố đưa hệ thống tên lửa phòng không hiện đại nhất của mình-S-400 tới căn cứ không quân của Nga ở Syria. Ảnh Sputnik/ Kirill Kallinikov
"Bộ Quốc phòng đề xuất chuyển giao S-400. Tổng thống đã đồng ý", ông Peskov nói với các nhà báo và được Sputniknews dẫn lại.
Trước đó, Bộ Quốc phòng Nga đã ra quyết định tiến hành các biện pháp hỗ trợ bổ sung cho Lực lượng Không quân Vũ trụ Nga trên không.
Theo đó, Nga đưa tuần dương hạm Moscow được trang bị hệ thống phòng không Fort (tương tự như S-300_ tới phụ trách khu vực ở vùng duyên hải Latakia. và Nga cảnh cáo rằng tất cả những mục tiêu có mối nguy hiểm tiềm tàng đối với quân đội Nga, sẽ bị tiêu diệt ngay tức khắc.
Tuần dương hạm tên lửa Moscow là kỳ hạm của Hạm đội Biển Đen và trước khi nhận chỉ thị cuối của Bộ Tổng tham mưu Liên bang Nga đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh từ biển cho căn cứ Hmeymim, nơi đặt căn cứ của Lực lượng Không quân Vũ trụ Nga triển khai các hoạt động chống IS.
Tuần dương hạm tên lửa Moscow được trang bị hệ thống tên lửa phòng không tầm xa S-300 Fort với cơ số dự trữ 64 quả tên lửa. Fort có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách đến 90 km với vận tốc tên lửa 2.000 m/s.
MINH ANH

Báo Nga: Bắn hạ máy bay ném bom Nga, sai lầm chết người của Ankara



00:36 26/11/2015

Chiếc máy bay Nga Su-24 trúng tên lửa phóng từ chiến đấu cơ F-16 Thổ Nhĩ Kỳ, được tuyên bố là đang bay trên không phận của mình (về mặt kỹ thuật điều này hoàn toàn có khả năng). Nhưng một số chuyên gia nhận định rằng, đây là một hành động khiêu khích, "động thái trả đũa" của Ankara cho việc Nga không kích các cơ sở chiến binh khủng bố ở Syria, trong đó có một số cơ sở vẫn tiếp tục nhận hỗ trợ từ Thổ Nhĩ Kỳ.

Báo Nga: Bắn hạ máy bay ném bom Nga, sai lầm chết người của Ankara
Một chiếc máy bay ném bom Su-24 của Nga, cùng loại với chiếc bị quân đội Thổ Nhĩ Kỳ bắn hạ tại Syria. Ảnh Sputnik/ Dmitriy Vinogradov
Ông Nazmi Gur, Nghị sĩ Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, Phó Chủ tịch Đảng Dân chủ nhân dân ủng hộ người Kurd tuyên bố như sau trong cuộc phỏng vấn với đài Sputnik:
"Để hiểu được nguyên nhân của sự cố, trước hết cần nhìn lại chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ về Syria. Nhìn vào vai trò của họ trong cuộc khủng hoảng Syria, những hành động đối với Syria suốt 5 năm qua.
Thứ hai, chú ý đến thực tế người Turkmen ở Syria (một dân tộc nói tiếng Turk sinh sống trên biên giới Syria-Thổ Nhĩ Kỳ) ban đầu không hề có tổ chức và vũ trang tốt, không có nỗ lực giao chiến với ông Assad.
Rõ ràng họ đã được ai đó huấn luyện đào tạo, trang bị vũ khí, củng cố và hỗ trợ. Người bí mật nâng đỡ họ không ai khác chính là Thổ Nhĩ Kỳ.
Thứ ba, ở khu vực này không chỉ có người Turkmen. Hiện trên địa bàn còn có nhiều nhóm cực đoan. Đó là điều mà tất cả đều biết. Cũng như việc họ được Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tay hỗ trợ.
Không quân Nga bắt đầu tiêu diệt những kẻ khủng bố, trong đó có các nhóm tham gia buôn lậu dầu mỏ Syria. Có thể hiểu một số thế lực có ảnh hưởng ở Thổ Nhĩ Kỳ đang thu về những khoản tiền lớn từ cuộc chiến ở Syria.
Chỉ khi nào tính đến tất cả các yếu tố này, thì mới hiểu được những hành động của Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ."
Ông Ismail Hakki Pekin, cựu lãnh đạo Cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu Thổ Nhĩ Kỳ đã nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn với Sputnik:
"Người Turkmen chiếm chưa đến 2% số dân ở đó (khu vực biên giới Syria-Thổ Nhĩ Kỳ). Hiện phần lớn số người tập trung trong khu vực là những kẻ khủng bố, những người Uighur và Chechnya.
Thực là một sai lầm quá lớn khi bắn hạ máy bay đang thực hiện hoạt động tấn công các thành phần khủng bố.
Máy bay ném bom Nga không gây bất kỳ đe dọa cho an ninh của Thổ Nhĩ Kỳ, không thể hiện những hành vi thù địch".
Ông Ismail Hakki Pekin cũng nhận xét rằng, phản ứng của Moscow trước vụ việc sẽ có thể rất cứng rắn và nặng nề đối với Ankara.
"Nga hiện đang nắm thông tin liên quan đến những đối tượng ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện kinh doanh dầu mỏ với IS, các địa chỉ giao hàng, v.v…
Ông Putin có thể sẽ nói với Thổ Nhĩ Kỳ: "Nếu các vị cho phép mình làm như vậy, đề nghị các vị cho biết dầu do chiến binh IS khai thác được vận chuyển qua lãnh thổ các vị như thế nào, tiền bán dầu đang chảy vào túi ai".
Tại Thổ Nhĩ Kỳ có một tổ chức mang tên Hội đồng Điều tra tài chính (MASAK). Tổ chức này nắm khối lượng lớn dữ liệu về các điểm tiếp nhận dầu, địa chỉ nhận tiền, người nhận và giải pháp rửa tiền.
Tất cả điều biết điều này, nhưng họ nhắm mắt làm ngơ và nói: "chúng tôi cần tiền."
Thổ Nhĩ Kỳ có thể sẽ được mời ra trước tòa án Hague, Tòa án Hình sự Quốc tế. Nếu điều đó xảy ra thì Thổ Nhĩ Kỳ sẽ lâm vào tình cảnh vô cùng tồi tệ", ông Hakki Pekin nói.
 
VƯƠNG TIẾN

 
Powered by Blogger